Hiển thị các bài đăng có nhãn Doanh nhân 5x. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Doanh nhân 5x. Hiển thị tất cả bài đăng

Phạm Quang Dũng: Cậu bé nghèo thành đại gia bất động sản

Phạm Quang Dũng - Trước khi trở thành chủ tịch của một công ty bất động sản có doanh thu 700 tỷ đồng mỗi năm, doanh nhân Phạm Quang Dũng đã trải qua những ngày tháng cơ hàn làm xe khách để kiếm miếng sinh nhai.


Sinh ra trong một gia đình thuần nông ở tỉnh Nam Định, ngay từ nhỏ, ông Phạm Quang Dũng đã đam mê kinh doanh và đeo đuổi ước mơ làm giàu. Nhưng khi lên 8 tuổi, ông mắc một chứng bệnh đau bụng lạ khiến mỗi năm phải nghỉ học 3 tháng. Quá trình học đứt đoạn, lại đúng lúc chiến trường kêu gọi, ông lên đường nhập ngũ khi mới học xong lớp 7.
Doanh nhân Phạm Quang Dũng - Chủ tịch Công ty cổ phần TASCO (TARIC).
Tháng 1 năm 1972, ông vào quân đội và được chọn làm cán bộ huấn luyện thông tin của Bộ Tư lệnh Pháo binh. Với quan niệm “xanh cỏ còn hơn đỏ ngực”, ông nhiều lần xin ra tiền chiến song đều bị từ chối. Năm 1975, ông xuất ngũ và thi đậu vào trường nghiệp vụ thủy lợi, khoa kế toán.
Sau 5 năm học, ông trở về quê, công tác tại phòng Giao thông thủy lợi của huyện Hải Hậu. Những ngày tháng công chức nhà nước khiến ông quyết định phải đầu tư một cái gì đó để gia đình mình, làng quê mình thoát nghèo. Ông nhớ lại: “Ai cũng đi làm theo kẻng để ghi điểm mà đói thì vẫn hoàn đói, đến mua cái vé ôtô cũng phải xếp hàng từ tối hôm trước, có người quen làm ở phòng giao thông, may ra cũng chỉ xin được giấy giới thiệu để được mua vé, đi từ Nam Định lên Hà Nội mất đến 2 ngày trời...”
Chứng kiến cảnh đó, từ những năm 1982-1983, ông Phạm Quang Dũng bắt đầu đầu tư công nông chở hàng, máy xay gia công, ôtô tải... Và đến năm 1988, khi nhà nước có chủ trương xã hội hóa, ông chuyển sang kinh doanh xe khách. Ngày thường đi làm công chức, cuối tuần lại đóng vai lơ xe.
Năm 1995, ông dứt áo công chức nhà nước sau 15 năm công tác để chuyển sang công ty xây dựng của huyện. Ban đầu chỉ là đấu thầu thành công những dự án của xã, ở huyện rồi có chút tiếng tăm, ông liên doanh với công ty công trình giao thông Nam Định, tiền thân của TARIC ngày nay. 2 năm sau, ông được vị giám đốc của đơn vị đối tác mời về với vị trí phó giám đốc, bất chấp dị nghị của bao người về trình độ bằng cấp.
Năm 1998, ông Phạm Quang Dũng lên giữ chức giám đốc trong tình cảnh doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản. Năm 2000, tổng tài sản của công ty chỉ là 600 triệu đồng. Nhờ cổ phần hóa, số vốn huy động được là 7 tỷ đồng, giúp đơn vị từng bước khắc phục được khó khăn. Đến nay, tổng số vốn điều lệ của TARIC đã 350 tỷ đồng với doanh thu mỗi năm khoảng 700 tỷ đồng.
Mới đây, ông đã vinh dự là một trong 24 Doanh nhân nhận giải thưởng Ernst & Young – Bản lĩnh doanh nhân lập nghiệp 2011.
Doanh nhân Phạm Quang Dũng là một trong 24 Doanh nhân nhận giải thưởng Ernst & Young – Bản lĩnh doanh nhân lập nghiệp 2011.
Mỗi ngày làm việc 15-16 tiếng, cả tuần chỉ nghỉ nửa buổi ngày chủ nhật, học và tự học không ngừng trên thương trường để có được thành quả như vậy song ông Phạm Quang Dũng luôn tâm niệm, thành công của TARIC là nhờ luôn giữ uy tín, chất lượng sản phẩm và sự đồng lòng, đoàn kết trong nội bộ công ty. Ngoài ra, vấn đề đào tạo trong doanh nghiệp cũng luôn được ông đề cao với việc đầu tư 2 tỷ đồng mỗi năm.
Ông Dũng kể, trong một lần tham gia khóa đào tạo quản trị tại Nhật, ông được biết các doanh nghiệp bên đó luôn coi trọng và đầu tư tỷ lệ phần trăm doanh thu nhất định cho đào tạo. Về nước, ông cũng áp dụng song mất nhiều tiền, thời gian mà không thu được hiệu quả. Sau một thời kỳ dài lãng phí, ông mới hiểu được bản chất của đào tạo trong doanh nghiệp là bù lỗ hổng, nghĩa là với mỗi vị trí nhất định phải yêu cầu năng lực chuẩn, đối chiếu với năng lực thực tế để bù đắp những mặt còn thiếu.
Trong bối cảnh như hiện nay, ông Dũng cho rằng không riêng gì bất động sản mà các lĩnh vực kinh doanh khác đều lâm vào tình cảnh khó khăn. “Đến hàng cơm bình dân cũng lao đao vì bây giờ giới văn phòng cũng quay lại thời kỳ cơm hộp, có mấy nơi đặt cơm trưa như trước đâu”, ông chia sẻ. Tuy nhiên, theo doanh nhân này, 75% giá trị doanh nghiệp nằm ở vốn nhân lực và văn hóa. Điều này nếu được đầu tư xứng đáng sẽ giúp đơn vị vượt qua giai đoạn khủng hoảng.
Từ cậu bé sinh ra trong một gia đình nghèo, nay sở hữu tổng tài sản trị giá cả trăm tỷ đồng, vươn lên làm chủ một doanh nghiệp lớn sau chặng đường học hành dang dở, doanh nhân Phạm Quang Dũng cho rằng ước mơ, đam mê là yếu tố then chốt.
“Muốn thành công trước hết cần phải có ước mơ, kế hoạch cho riêng mình. Mình phải biết mình muốn gì thì trời mới biết để cho. Đến Harvard cũng chỉ trang bị phương pháp logic, kiến thức phải là sự trải nghiệm”, ông Phạm Quang Dũng chia sẻ.

Đọc thêm »

Phan Đào Vũ: Tổng giám đốc Bảo Việt Bank người đi xuyên khủng hoảng

Phan Đào Vũ làm lãnh đạo ngân hàng liên doanh với 2 lần đối tác ngoại phá sản, lập nhà băng cổ phần đầu tiên theo quy chế mới bất thành vì chính sách thay đổi… số phận không dành sự dễ dàng cho CEO của Ngân hàng Bảo Việt.

Tốt nghiệp Đại học Tài chính, chàng trai Phan Đào Vũ được phân vào làm việc tại Vụ Tín dụng Thương nghiệp (khi đó gọi là Ngân hàng Thương nghiệp) – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại TP HCM. Chỉ trong vài tháng đầu tiên, Vũ đã gây được ấn tượng mạnh với cấp trên sau buổi đảm nhận công việc thư ký cho một cuộc họp lớn của toàn miền Nam được tổ chức tại TP HCM.

Biên bản viết tay với đầy đủ các ý kiến, đề xuất, kết luận… của các thành viên tham dự được cậu sinh viên mới ra trường thực hiện một cách xuất sắc khiến cả những vị lãnh đạo có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành cũng ngạc nhiên. Sau sự kiện này, Vũ được đặc cách phân công vào bộ phận tổng hợp, chuyên viết chế độ chính sách cho hoạt động tín dụng. Đây là nơi vốn dành cho những cán bộ có kinh nghiệm trong ngành ngân hàng, chứ chưa từng xuất hiện sinh viên mới ra trường.

Say mê nghiên cứu và rất xông xáo trong việc tìm hiểu thực tế cho vay thu mua lương thực ở Đồng bằng Sông Cửu Long vốn là mảng dụng nóng bỏng nhất thời kỳ đó, Vũ được đánh giá rất cao về nghiệp vụ. Một cán bộ trẻ 22 tuổi, mới vào nghề nhưng thường xuyên được cử đi hỗ trợ các đoàn nghiên cứu, thanh kiểm tra về khảo sát tình hình cho vay thương nghiệp ở khu vực phía Nam.


Ông Phan Đào Vũ - CEO của BAOVIET Bank. Ảnh: Lê Thanh

Có lần, một đoàn công tác cấp cao của Ngân hàng Trung ương về kiểm tra tại An Giang, và Vũ cũng được cử đến hỗ trợ nghiệp vụ. Hôm đó, Vũ ăn mặc kiểu thanh niên trông hơi hippie khiến vị trưởng đoàn cứ trố mắt nhìn. Ông này không thể tin nổi là một cậu trai trẻ măng như vậy lại được chỉ định để giúp đỡ đoàn thanh tra toàn thành viên cấp cao, làm những điều tra quan trọng…

Tuy nhiên, vị trưởng đoàn cũng nhã nhặn nói với Vũ: “Chắc có sự nhầm lẫn. Đoàn thanh tra đã đủ người rồi, cháu ạ!”. Lúc đó, tài năng trẻ của Văn phòng Ngân hàng Nhà nước phía Nam chợt hiểu…

Năm 1984, Vũ ra Hà Nội và vẫn làm việc tại Vụ Tín dụng Thương nghiệp của Ngân hàng Trung ương. Tương tự như ở phía Nam, anh là cán bộ trẻ nhất của vụ. Chỉ một thời gian ngắn, Vũ giành được sự tin cậy cao của các lãnh đạo, những chuyên viên có bề dày kinh nghiệp tại vụ.

Anh là cán bộ trẻ hiếm hoi của Ngân hàng Trung ương lúc đó được tham gia các buổi họp góp ý quan trọng về chế độ chính sách với thống đốc, phó thống đốc và các vụ trưởng… Vũ cũng là thành viên trẻ tuổi nhất của Vụ Tín dụng Thương nghiệp từ khi gia nhập vụ năm 1980, cho đến lúc chuyển đổi mô hình tổ chức, cơ cấu lại thành Vụ Tín dụng vào năm 1988.

Trong quá trình soạn thảo các văn bản chế độ, anh trở thành người đầu tiên đưa ra và chứng minh được công thức tính nợ quá hạn trong cho vay luân chuyển. Trước đó, ngân hàng chỉ xác định được nợ quá hạn đối với cho vay từng lần. Với vay luân chuyển cho các đơn vị kinh doanh thương nghiệp thời kế hoạch hóa tập trung, do không thấy rõ thời hạn từng khoản vay nên cũng không tính được nợ quá hạn. Điều này đã tồn tại từ hàng chục năm trước đó với sự trăn trở của nhiều chuyên gia kỳ cựu ngành ngân hàng.

Một bước ngoặt lớn xảy ra năm 1990 khi Vũ vào lại TP HCM để gia nhập một công ty liên doanh lần đầu tiên tổ chức thanh toán thẻ tín dụng VISA tại Việt nam. Vũ cùng các đồng nghiệp triển khai thành công việc giới thiệu, phát triển mạng lưới chấp nhận thẻ (merchants) và tổ chức thanh toán thẻ tín dụng tại thị trường TP Hồ Chí Minh.

Năm 1991, khi Indovina Bank – ngân hàng liên doanh đầu tiên tại Việt Nam được thành lập, Vũ được tuyển chọn làm Trưởng phòng Hành chính - Nhân sự, mà tiếng Anh chưa tốt. Ở vị trí phải liên tục giao tiếp với các đồng nghiệp nước ngoài, viết memo bằng tiếng Anh, Vũ rất vất vả trong những ngày đầu vì hạn chế về tiếng Anh của mình. Từ vị trí “ngôi sao đang lên”, anh giống như một “người rừng” ở môi trường mới.

Điều này cộng với nhân tố là dân “Bắc Kỳ”, Phan Đào Vũ không nhận được mối thiện cảm từ các đồng nghiệp khác tại ngân hàng lúc đầu. Cũng vì thế, anh phải thực hiện những nỗ lực vượt bậc để khẳng định mình và chiến thắng sự tự ti về khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh.

Trong vài tháng đầu, dù nói tiếng Anh còn kém nhưng các memo của Vũ gần như hoàn hảo. Ít người biết rằng, để có được những bản memo đó, anh phải viết đi viết lại và hỏi thêm ý kiến của thầy giáo tiếng Anh. Với năng khiếu ngoại ngữ đặc biệt, tiếng Anh của Vũ đã tiến bộ nhanh chóng. Chỉ sau một năm làm việc tại Indovina Bank, anh đã có thể làm điều phối viên các hội nghị, hội thảo bằng tiếng Anh, phiên dịch cho các phiên họp Hội đồng quản trị cũng như đoàn công tác cấp cao của ngân hàng nước ngoài làm việc với các cơ quan Chính phủ.

Sự khẳng định của Vũ về khả năng làm việc đã thực sự chinh phục được các đồng nghiệp cả trong và ngoài nước tại đây. Năm 1992, anh được cử ra Hà Nội làm phó giám đốc và sau đó trở thành giám đốc chi nhánh… Năm 1997, Phan Đào Vũ trở thành ủy viên hội đồng quản trị, rồi phó tổng giám đốc thứ nhất – người đại diện vốn của phía Việt nam trong ngân hàng liên doanh từ đầu năm 1998.

Thế nhưng, vào đúng năm ông Vũ trở thành người điều hành chính tại ngân hàng này thì đối tác nước ngoài trong liên doanh gặp khó khăn nghiêm trọng trong cơn khủng hoảng tài chính Đông Á (1998-1999). Năm đó, lên máy bay sang Indonesia để họp hội đồng quản trị, tân Phó tổng giám đốc thứ nhất giật mình khi đọc báo thấy tin đối tác nước ngoài của Indovina Bank là Bank Dagang National Indonesia đã tuyên bố phá sản. Tới ngân hàng đối tác, ông Vũ thấy người dân đến xếp hàng dài trước cửa chờ rút tiền… Trước đó, Indovina Bank đã từng một lần thay đối tác cũng bởi phía nước ngoài phá sản.

Trong nước, các đối tác và khách hàng biết tin cũng ào ào rút tiền. Lúc đó, nhà băng này đã có tổng tài sản lên tới 100 triệu USD và dư nợ khoảng 90 triệu USD. Đây là cuộc thử lửa lớn đầu tiên của ông Vũ trên cương vị người điều hành chính của ngân hàng.

Indovina trải qua thời kỳ hết sức khó khăn về thanh khoản. Ông Vũ và đồng nghiệp phải vật lộn đối phó trước sự rút tiền của hàng loạt khách hàng. Chỉ có ông và một số ít đồng sự nắm được khó khăn thực sự khi tiền trên các tài khoản nostro ở nước ngoài có những khi không đủ để đáp ứng một khoản rút tiền nhỏ. Lúc đó, ông Vũ và vài đồng nghiệp không thể chia sẻ hay tiết lộ cùng ai bởi sự hỗ trợ từ các ngân hàng đại lý cả trong và ngoài nước đã khép lại.

Trong 3 tháng, với nỗ lực thu hồi nợ trước hạn để giữ vững thanh khoản, ngân hàng đã kéo được dư nợ tín dụng giảm 80% và duy trì sự ổn định tới đầu năm 2000 khi có đối tác nước ngoài mới. Trong hai năm 1998 - 1999, bất chấp sự đổ vỡ của đối tác, cộng với sụt giảm qui mô do phải giảm quá nhanh dư nợ, Indovina Bank vẫn có lãi dù không nhiều. Đây được coi là điều rất khó tin đối với những người quan tâm đến Indovina Bank lúc đó.

Trước khủng hoảng tài chính 1998-1999, Indovina Bank luôn nằm trong danh sách những ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động hiệu quả nhất Việt Nam. Sau khi có đối tác mới, Indovina nhanh chóng phục hồi và trở lại vị trí ngân hàng hàng đầu những năm sau đó. Tuy nhiên, sau 16 năm gắn bó với Indovina Bank, ông Vũ quyết định đi tìm thách thức lớn hơn - thành lập một ngân hàng cổ phần mới theo lời mời của những nhà sáng lập.

Sau 7 tháng chuẩn bị (kể từ tháng 3/ 2007), ông đã tuyển được đội ngũ nhân sự hơn 80 người cho Ngân hàng thương mại cổ phần Công nghiệp Việt Nam gọi tắt là INBank. Bên cạnh đó, ông Vũ cũng hoàn thành việc xây dựng cơ sở vật chất cho hội sở chính, dự án ngân hàng lõi Core Banking, dự án thẻ ATM, hệ thống nhận diện thương hiệu.

Đặc biệt, vị CEO này đã hoàn thiện cơ cấu tổ chức theo mô hình hiện đại, vận hành theo nguyên tắc quản lý tập trung. Tuy nhiên, INBank đã không được cấp phép vì chủ trương của Chính phủ không cho phép một số tập đoàn nhà nước đầu tư góp vốn thành lập ngân hàng.

Tháng 10 năm 2008, sau khi kết thúc công việc với ban trù bị thành lập INBank, ông Vũ trở thành Tổng giám đốc của Ngân hàng cổ phần Bảo Việt ngay khi ngân hàng này được cấp phép. Thế nhưng, số phận dường như lại muốn thử thách ông Vũ. BAOVIET Bank ra đời và đi vào hoạt động đúng vào lúc khó khăn nhất của nền kinh tế trong cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến sứ mệnh mới của ông Vũ vô cùng thách thức.

Dù khởi đầu trong thời buổi khó khăn, nhưng ngay trong năm đầu hoạt động 2009, ngân hàng đã kinh doanh có lãi, với tổng tài sản đạt 7.300 tỷ đồng trên vốn điều lệ 1.500 tỷ đồng, mức mà hầu hết các nhà băng cổ phần trước đó phải mất mười năm hoặc hơn mới có thể đạt được. Năm 2010, BAOVIET Bank lại nhân gần gấp đôi tổng tài sản, lợi nhuận so với 2009 trong điều kiện phải đầu tư lớn về cơ sở vật chất để phát triển mạng lưới (tăng lên 26 chi nhánh) và dầu tư nhiều vào công nghệ.

Đặc biệt, hoạt động trong giai đoạn khủng hoảng nhưng nhà băng này giữ được chất lượng tin dụng ở mức tốt với việc không phát sinh nợ xấu. Năm 2011, ông Vũ và hội đồng quản trị tiếp tục đặt mục tiêu thách thức hơn cho BAOVIET Bank với việc tăng gấp đôi tất cả các chi tiêu đã thực hiện được trong năm trước để đạt được qui mô tổng tài sản 25.000 tỷ đồng sau ba năm hoạt động...

Vào lúc rảnh rỗi, CEO của BAOVIET Bank thường dành thời gian cho môn golf. Ông thích golf bởi nó giúp rèn luyện thể lực và khả cân bằng trong mọi trường hợp, sự chính xác, tính trung thực và nuôi dưỡng niềm hy vọng.

“Nếu bạn nổi cáu khi gặp chuyện không vừa ý, thì ngay sau đó bạn sẽ không thể đánh tốt, golf buộc người chơi phải rèn luyện sự cân bằng trong mọi tình huống . Thêm vào đó, golf luôn gieo vào lòng người chơi hy vọng ngày hôm sau sẽ đánh tốt hơn cho dù hôm nay đã đánh rất tốt hay rất tệ, điều này tạo ra đức tính luôn mong muốn hoàn thiện của mỗi người”, ông Vũ tâm sự.

Bên cạnh công việc, ông Vũ có một niềm tự hào lớn về gia đình với vợ là một người bạn đồng môn và đồng nghiệp ngân hàng, cùng hai cậu con trai học giỏi và thành đạt. Con trai lớn của ông đã từng đoạt giải học sinh giỏi toán-văn toàn quốc, sau đó theo học và tốt nghiệp chuyên nghành tài chính của Đai học Kinh tế London (LSE), một trong những trường về kinh tế-tài chính hàng đầu thế giới.

Với kết quả học tập xuất sắc và khả năng làm việc tốt trong thời gian thực tập, chàng trai này đã được nhận vào làm việc (đến nay đã được hai năm) ở bộ phận Investment Banking tại sở chính của HSBC tại London. Con trai thứ hai của ông Vũ đang theo học chuyên nghành kinh tế của Trường Đại học Warrick – cũng là một trong những trường danh tiếng hàng đầu tại nước Anh. “Đó là những tài sản và niềm tự hào lớn nhất của tôi”, CEO của BAOVIET Bank tâm sự.




Gợi ý tìm kiếm: , , , , , , ,  
Đọc thêm »

Đoàn Quốc Việt: Ông chủ đầm tôm thích bay

Nuôi tôm công nghệ cao vì Việt Nam chưa có ai làm, thành lập Air Mekong bởi thấy việc đi lại bằng đường hàng không còn nhiều bất cập… Tiến sĩ Đoàn Quốc Việt khiến nhiều người bất ngờ vì những quyết định của mình.

Sau khi bảo vệ thành công luận án nghiên cứu sinh tại Học tại viện Hàng không và Cơ học ứng dụng Đại học Bách khoa Warsaw, ông Đoàn Quốc Việt không khởi nghiệp bằng nghề mình đã học mà kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn tại Ba Lan.

Trong một lần về nước, đi du lịch ở Hạ Long, ông cùng với vài người bạn loay hoay mãi không tìm được khách sạn như ý. Người bạn đề xuất: “Sao ông không đầu tư xây dựng khách sạn nào đó tại đây”. Ông Việt chợt nghĩ: “Ừ nhỉ, ngẫm cũng phải”. Thế là khách sạn tư nhân 4 sao Hạ Long Plaza ra đời thời gian sau đó.


Chủ tịch Air Mekong.

Không chỉ có khách sạn, sự nghiệp kinh doanh của ông tại Việt Nam là một chuỗi những tình cờ thú vị, đi kèm với những cơ hội. Từ một phó tiến sĩ được đào tạo về lĩnh vực ứng dụng hàng không, đi kinh doanh khách sạn, đùng một cái, ông chuyển sang nghề nuôi tôm. Các lĩnh vực này vốn chẳng mấy liên quan đến nhau.

Khi được hỏi chuyện, ông Việt nói một cách say sưa về những ngày đầu chật vật với việc nhân giống, chọn lựa tôm bố mẹ, rồi những sản phẩm tôm lần đầu tiên mang đi xuất khẩu.

Ông Việt nhớ lại, trong một lần trao đổi về ngành thủy sản khi tới thăm Hạ Long, Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn có bày tỏ tâm tư về việc ngành nuôi tôm của Việt Nam quá bấp bênh. Tại thời điểm đó, Việt Nam chưa công ty nào có thể nuôi tôm bố mẹ sạch bệnh, giúp các mùa tôm có thu hoạch ổn định; phần lớn đều ở tình cảnh bấp bênh, mùa này được nhưng mùa sau lại mất. Nghe vậy, ông chủ của Hạ Long Plaza nói rằng mình có thể làm được, dù kiến thúc về nuôi tôm lúc đó chỉ là con số 0.

Sau cuộc nói chuyện với Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn, ông Việt đặt quyết tâm phải làm bằng được. Ông chủ khách sạn đã sang Mỹ mời một chuyên gia hàng đầu về nuôi tôm, đưa về Việt Nam để xây dựng một trại tôm giống sạch bệnh đầu tiên ở trong nước. Sau 14 tháng, lứa tôm giống sạch bệnh đầu tiên đã ra lò. Kể từ thời điểm này, những đầm tôm ở Việt Nam đã bắt đầu bớt đi sự bấp bênh do dịch bệnh cũng như thời tiết nhờ tôm giống được ra đời và chăm sóc với những phương pháp, công nghệ mới.

“Một số người thường nghĩ đến nuôi tôm là vài cái ao và một nền nông nghiệp mà không biết rằng đó là ngành sử dụng nhiều công nghệ mới. Chỉ riêng đầm tôm của chúng tôi đã cần tới 50 chuyên gia nước ngoài ở tất cả các công đoạn để thực hiện việc áp dụng và chuyển giao công nghệ”, ông chia sẻ.

Chưa hết, ông chủ đầm tôm tâm tư: “Nhiều người cứ nghĩ tôi đang sở hữu vài ba cái ao. Họ đâu biết tôi đang có diện tích nuôi tôm lên tới 1.300 ha - lớn nhất trong các doanh nghiệp nuôi tôm xuất khẩu ở Việt Nam”. Mỗi năm, đầm tôm của ông đem lại doanh thu hàng trăm tỷ đồng với hàng nghìn tấn sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Nhật và Đông Âu.

Gia đình ông Đoàn Quốc Việt (Vợ, con trai, con gái và con rể) trên đỉnh núi Mount McKinley cao nhất của bang Alaska, Mỹ.

Ngoài việc đi tiên phong trong nuôi tôm sạch bệnh, ông Việt từng gây ngạc nhiên với tuyên bố sẽ nuôi cá song đẻ được trong khi những đơn vị nuôi loại cá này thời điểm đó chưa thành công. Ông chủ đầm tôm cho biết: “Lúc đó tôi chưa biết nuôi cá song đẻ khó thế nào nhưng nghĩ, nếu nước khác làm được mà mình lại có điều kiện khí hậu thuận lợi thì cũng có thể thành công”. Đúng như ông nói, sau 6 tháng tìm hiểu tại Đài Loan, mời chuyên gia nước ngoài về thực hiện chuyển giao công nghệ, năm 2001, chủ đầm tôm đã thành công trong việc nuôi cá song đẻ.

Câu chuyện kinh doanh hàng không của ông cũng đến ngẫu nhiên như kinh doanh đầm tôm vậy. Công ty Đầu tư và Phát triển sản xuất Hạ Long (BIM) mà ông Việt làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc có nhiều dự án từ Bắc tới Nam. Cũng vì thế, nhu cầu đi lại bằng đường hàng không của ông rất cao, trong khi dịch vụ trong ngành này lại hạn chế. Nhận thấy nhu cầu và những mảng thị trường còn trống, Chủ tịch của BIM quyết định đầu tư mở hãng hàng không mới với tên gọi Air Mekong.

Ông cho biết, giữa tôm và hàng không có một điểm chung là cùng liên quan đến quá trình chuyển giao vốn cũng như công nghệ cao. Tuy nhiên, không nhanh như nuôi tôm, quá trình khai trương Air Mekong của ông Việt mất tới 2 năm chuẩn bị.

Tương tự như nuôi tôm, đội ngũ ban đầu của Air Mekong có hầu hết nhân sự chủ chốt là người nước ngoài như phi công (100%), bảo dưỡng kỹ thuật (90%)… Ông chủ của hãng giải thích: “Hàng không là một ngành có tiêu chuẩn tuyệt đối. Vì thế, nếu như mới bay mà các yếu tố về đảm bảo an toàn, đúng lịch trình, thời gian, dịch vụ không được đảm bảo thì sẽ khó tồn tại. Thêm vào đó, đây cũng là một ngành mà Việt Nam còn lạc hậu nên cần có chuyển giao công nghệ từ các hãng nước ngoài nên nhân tố ngoại đóng vai trò quan trọng tại Air Mekong trong thời kỳ đầu”.

Cũng nhờ “yếu tố ngoại”, trong 3 tháng bay đầu tiên, Air Mekong trở thành hãng hàng không tại Việt Nam không chậm giờ, bỏ chuyến trong cả điều kiện thời tiết xấu. Nhiều khách hàng bay hạng ghế thương gia đã quay trở lại và cùng đồng hành với hãng trên các chuyến tiếp theo. “Chi phí ban đầu có thể cao nhưng uy tín của hãng được đảm bảo là nhân tố quan trọng nhất khi chúng tôi mới bước chân vào ngành hàng không”, ông chủ đầm tôm tâm sự.

Thừa nhận Air Mekong khó có khả năng sinh lời cao nhưng ông Việt tiết lộ, hàng không đem lại những cơ hội mới cho các dự án khách sạn, khu nghỉ dưỡng của BIM và những nguồn lợi khác mà người bên ngoài khó nhìn thấy. Ông cũng cho biết thêm, Air Mekong không có những khát vọng to lớn gì trong việc cạnh tranh với các đàn anh như Vietnam Airlines hay Jetstar Pacific. “Chúng tôi không có thói quen chứng minh là mình giỏi hơn ai mà chỉ muốn tồn tại để tăng thêm sự lựa chọn cho khách hàng”, người đứng đầu Air Mekong tâm sự.

Theo ông Việt, chiến lược của hãng là sử dụng máy bay phản lực hiện đại để tạo ra các thị trường ngách. Trong vòng 5 năm tới, Air Mekong sẽ tập trung vào các tuyến bay tới hải đảo, cao nguyên - những mảng mà các hãng lớn chưa làm, để tạo sự khác biệt. Sau khi khai thác tốt các thị trường ngách, hãng mới tính tới các trục bay nhờ nối các ngách lại với nhau.

Điều hành một nhóm công ty kinh doanh đa ngành (tôm, muối, bất động sản, hàng không…), ông chủ của BIM luôn bận rộn. Cũng vì thế, ông cũng chưa thu xếp được thời gian để đi chơi golf với nhiều người bạn mà đơn giản chỉ chạy bộ mỗi ngày ở nhà để rèn luyện khỏe.

Cứ hai tuần một lần, ông Việt cố gắng bỏ thời gian cùng vợ đi chợ và đích thân vào bếp nấu cơm để không khí gia đình thêm phần ấm áp. “Đó cũng là một thú vui của tôi”, ông tâm sự. Mỗi năm, ông chủ của BIM dành một đến hai kỳ nghỉ để cùng cả gia đình khi khám phá những vùng đất đặc biệt trên thế giới và cũng để học hỏi từ những chuyển đi.

“Sắp tới, BIM có thể sẽ đầu tư thêm vào ngành năng lượng gió và sẽ phát triển ngành này trên chính vùng sản xuất công nghiệp muối Quán Thẻ - Ninh Thuận - nơi mà tiềm năng về gió thuộc loại bậc nhất Việt Nam”, chủ tịch Đoàn Quốc Việt nói.



Gợi ý tìm kiếm: , , , , , , ,  
Đọc thêm »

Hà Hùng Dũng: Tôi chỉ thích bay

Nhạc sĩ Hà Dũng: 'Tôi chỉ thích bay' - “Tôi tuổi Rồng nên chỉ thích bay. Đây chính là lý do tôi chọn hàng không là lĩnh vực để kinh doanh", Tổng giám đốc Indochina Airlines tâm sự.

- Người ta biết đến Hà Dũng là một nhạc sĩ. Tại sao ông không dành nhiều thời gian cho âm nhạc mà lại chọn hàng không?

- Nó là duyên nợ đấy. Tôi tuổi Rồng mà (Nhâm Thìn) nên chỉ thích bay. Thực tế, tôi đã kinh qua rất nhiều nghề, lĩnh vực nhưng quanh đi quẩn lại vẫn quay về kinh doanh hàng không - đó chính là cái nghiệp.

Cách đây mười mấy năm khi còn là trợ lý của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tôi đã từng xin thành lập Công ty cổ phần Air Sài Gòn. Thời ấy do gặp khó khăn về nhân sự và thủ tục nên không được bay. Nhưng rồi, giấc mơ bay của tôi cũng thành hiện thực bằng sự ra đời của hãng hàng không tư nhân đầu tiên Indochina Airlines.

Nhạc sĩ Hà Dũng. Ảnh: thoitrang.

- Indochina Airlines cất cánh trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó, nhiều hãng hàng không trên thế giới phá sản. Ông tin mình sẽ thành công ở thị trường VN?


- Tôi là người dám làm và luôn theo đuổi đến cùng mục tiêu đã lựa chọn. Hàng không là lĩnh vực khó và không dễ kiếm lời, đòi hỏi vốn trường và có sự am hiểu về nghề. Bạn biết tiền của các hãng hàng không nằm ở đâu không? Nó nằm ở chính dịch vụ bán cho khách hàng đấy. Chính vì thế các tổ chức tín dụng rất tin tưởng để bơm vốn vì họ nhìn thấy rõ độ rủi ro hay an toàn của đồng vốn.

Không hãng hàng không nào lại bỏ tiền túi ra mua máy bay hay các dịch vụ khác mà họ phải sử dụng vốn vay từ ngân hàng. Tôi nói ví dụ Vietnam Airlines vừa mua 10 chiếc ATR72 mấy chục triệu USD, tiền này họ cũng đi vay từ các tổ chức tín dụng. Chúng tôi cũng vậy, rất nhiều đối tác tin tưởng và đang cùng tham gia đầu tư với chúng tôi.

- Thời gian qua, Indochina Airlines liên tục bị nhà cung ứng nhiên liệu hàng không Vinapco đòi nợ tiền xăng với mỗi đợt lên tới vài chục tỷ đồng, ông giải thích sao về điều này?

- Trong kinh doanh, nợ nần là chuyện bình thường, lúc này ta nợ đối tác và lúc khác thì đối tác nợ ta. Bản thân trong đề án kinh doanh hàng không, chúng tôi cũng đưa ra kịch bản là lỗ trong 2 năm đầu. Hiện chúng tôi mới hoạt động được 7 tháng, giai đoạn đầu mà, có lúc nọ lúc kia, có lúc khó khăn, khi dư giả. Trên thực tế có hãng hàng không nợ tới hàng nghìn tỷ đồng đấy nhưng có ai nói gì đâu. Tôi cho rằng mình dở hơn người ta là số nợ của tôi quá ít so với họ thôi.

- Nhưng những "đôi co" về khoản nợ xăng đang khiến dư luận đặt câu hỏi phải chăng Indochina Airlines đang gặp khó khăn về mặt tài chính và có nguy cơ phá sản?

- Đây là những lời ác ý, đồn nhảm và tôi không bình luận. Tôi chỉ lấy làm lạ là một hãng hàng không mới ra đời trong đất nước gần 100 triệu dân mà mới có 7 triệu người có đủ điều kiện đi máy bay mà chúng ta không ủng hộ nhỉ? Lẽ ra khi người ta gặp khó khăn thì cần an ủi ít nhất về mặt tinh thần, đằng này cứ đồn thổi lung tung như thể muốn người ta chết cho nhanh.

Trước đây, chúng tôi từng ứng trước hơn 40 tỷ đồng cho phí nhiên liệu đấy thôi nhưng có thấy ai nói gì đâu. Trong khi đó, chúng tôi đang phải chi trả rất nhiều khoản như đào tạo phi công, tiếp viên, suất ăn, thuê máy bay, bảo dưỡng, kỹ thuật… xăng dầu chỉ là một trong số những khoản chi phí trên. Tôi cho rằng bất cứ một doanh nghiệp mới nào ra đời giai đoạn đầu cũng sẽ gặp khó khăn nhất định. Chúng tôi đang tập trung nguồn lực để xây dựng thương hiệu, hình ảnh công ty vì mục tiêu lâu dài chứ không phải trước mắt. Việc Vinapco dọa cắt xăng đã khiến chúng tôi thiệt hại rất nhiều, ảnh hưởng đến thương hiệu, khách hàng lo lắng hủy vé bay. Tôi không muốn đôi co mà cái này sẽ để cho lịch sử phán xét.

- Người ta biết đến ông không chỉ là doanh nhân mà còn là nhạc sĩ với rất nhiều “giai nhân” quanh mình, ông thích sự nổi tiếng nào trong hai vai trò ấy?

- Đúng là tôi từng sáng tác nhiều bài hát và cũng tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ nhưng tôi không phải là nghệ sĩ và cũng đừng gọi tôi là nhạc sĩ. Tôi là một người làm ăn và thích nghề kinh doanh. Tôi coi sáng tác nhạc chỉ là để cuộc sống thêm thi vị.

Kinh doanh đem lại cho tôi nhiều thành công song cũng không ít thất bại nhưng tôi luôn coi thất bại là bài học lớn nhất để thành công. Tôi không có thói quen ngồi gặm nhấm quá khứ hay nhẩm tính xem mình đã bao nhiêu lần thành công và bao nhiêu lần thất bại, chỉ biết rằng, tôi là một người tốt và luôn làm mọi việc theo đúng cái tâm của mình. Tôi đã từng mắc nợ một dự án, ấy là thời kỳ tham gia thành lập Tổng kho phân phối phân bón miền Nam. Dự án thất bại, tôi đối mặt với khoản nợ khổng lồ, bị giám sát trong 3 năm và yêu cầu trả đủ nợ. Nhưng phải 6 năm sau tôi mới trả hết. Sau cú sốc ấy tôi rút ra rất nhiều bài học kinh nghiệm trong kinh doanh.

- Trong mỗi con người có một “gót chân Asin”, vậy điểm yếu của ông là gì?

- Tôi không có điểm yếu và cũng chẳng sợ gì. Sống qua tuổi này, tôi thấy mình đã “quá lời”. Nỗi sợ lớn nhất của đời người là cái chết nhưng tôi chẳng bao giờ sợ chết vì tôi sống đến chừng này tuổi là quá đủ rồi.

Cũng phải nhìn nhận rằng ông trời cho tôi nhiều thứ nhưng tôi không bao giờ hưởng thụ một mình mà chia sẻ cho rất nhiều người. Đôi lúc tôi cảm thấy mình như trạm trung chuyển giữa trời và người - ông trời cho tôi nhiều thứ và tôi mang những thứ đó chia sẻ cho nhiều người. Tôi không phải là người mê tín nhưng luôn tin rằng có thế lực thứ 3 mà chúng ta chưa thể chạm tới hoặc không lý giải nổi. Tôn giáo từ đó mà ra và không phải vô duyên vô cớ mà có quá nhiều người tin và theo một tôn giáo, một đạo nào đó. Đôi khi ta đề ra nhiều kế hoạch nhưng không thể thực hiện được vì bàn tay của thế lực thứ ba lái theo chiều hướng khác.



Gợi ý tìm kiếm:  , , , ,, , ,  

Thông tin Hà Dũng.

Hà Dũng (sinh năm 1952) là một nhạc sĩ, doanh nhân Việt Nam. Tuy từng là một nhạc sĩ, có nhiều thông tin liên quan với một số người đẹp, ca sĩ như Hồ Quỳnh Hương, Quách An An,...[1], nhưng nhiều người biết ông với tư cách là người sáng lập Hãng hàng không Indochina, hãng hàng không tư nhân thứ hai và hãng hàng không thứ năm của Việt Nam.

Khởi đầu sự nghiệp

Nguyên tên ông là Hà Hùng Dũng, sinh tháng 10 năm 1952, con cả trong gia đình có 5 anh em. Được cho là sống xa gia đình từ nhỏ, năm 1972, ông tốt nghiệp phổ thông khi đã 20 tuổi. Tuy nhiên, chỉ 1 năm sau, ông được cử sang Liên Xô để học bậc Đại học và tốt nghiệp năm 1979. Sau khi về nước, ông thăng tiến rất nhanh trong sự nghiệp, lên đến chức Vụ phó và từng là một vụ phó trẻ nhất Việt Nam. Giữa tháng 4 năm 1982, ông làm trợ lý cho ông Võ Văn Kiệt, bấy giờ là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Giữa năm 1988, ông thôi việc, bắt đầu chuyển hướng làm doanh nhân.

Chuyển sang làm doanh nhân

Năm 1990, ông sang Mỹ và tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại đây. Cũng trong thời gian này, ông bắt đầu bước vào lĩnh vực hàng không. Năm 1997, ông thành lập Công ty Việt Hà, đại diện cho hãng Boeing tại Việt Nam, tư vấn chương trình nhà máy phát điện, kinh doanh địa ốc, tài chính...
[sửa]Bước vào giới nghệ sĩ

Từ năm 2002, ông bắt đầu được công chúng biết đến với vai trò là nhạc sĩ, qua các ca khúc "Hoài niệm", "Vào đời", "Tình yêu đợi chờ"..., cũng như những tin đồn về mối liên hệ với ca sĩ Hồ Quỳnh Hương. Năm 2006, ca khúc "Niềm hy vọng" do ông sáng tác và ca sĩ Hồ Quỳnh Hương trình bày đã đoạt giải Bài hát của tháng trong chương trình Bài hát Việt. Cho đến năm 2008, ông có 17 tác phẩm đã được trình diễn[cần dẫn nguồn].
Hà Dũng gần như công khai đời sống tình cảm của mình và các dính líu với một số người đẹp, ca sĩ như Hồ Quỳnh Hương, Quách An An,...[2]

Giấc mơ bay không suôn sẻ

Là đại diện của Boeing tại Việt Nam, có khả năng tài chính cũng như mối quan hệ với các quan chức cấp cao, ông đã có ý định thành lập một hãng hàng không tư nhân để nhanh chóng chiếm lợi thế trong thị trường hàng không Việt Nam chuẩn bị bước vào giai đoạn cạnh tranh. Công ty Cổ phần Hàng không Tăng Tốc, với tên giao dịch AirSpeedUp JSC, với vốn điều lệ ban đầu là 200 tỷ đồng được cấp giấy phép thành lập từ tháng 5 năm 2007 và đến tháng 5 năm 2008, được cấp chứng nhận vận chuyển hàng không. Đây chính là tiền thân của Hãng hàng không Indochina, hãng hàng không tư nhân thứ 2 và là hãng hàng không thứ năm của Việt Nam.

Để chớp thời cơ, Indochina Airlines quyết định "tăng tốc". Ngày 25 tháng 11 năm 2008, chuyến bay thương mại đầu tiên chở ban lãnh đạo Hãng và một số hành khách đã cất cánh từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Hà Nội[3]. Indochina Airlines trở thành hãng hàng không thứ 3 của Việt Nam cất cánh, sau Vietnam Airlines, Jetstar Pacific Airlines, trước cả VietJet Air.

Tuy nhiên, chỉ sau 1 năm hoạt động, hãng đã rơi vào thua lỗ, buộc phải dừng bay và ngừng hoạt động dù không tuyên cáo phá sản. Cho đến nay, do những khó khăn tài chính, hãng vẫn chưa thể hoạt động trở lại, dù Chủ tịch Hà Dũng nhiều lần tuyên bố sẽ bay lại. Bên cạnh đó, ông còn bị cáo buộc về việc nợ lương nhân viên của như nợ đối tác.
Đọc thêm »

Đặng Thị Hoàng Yến: Người Phụ nữ giàu nhất Việt Nam

Mình không thể ở sát bên con để đặt tay chỉ việc, mà nuôi dạy con có niềm đam mê, nuôi dưỡng con biết ước mơ lớn để chính các cháu tự phấn đấu theo đuổi ước mơ của đời mình" - đó là tâm sự dạy con của chị.


Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và bà Đặng Thị Hoàng Yến - CT HĐQT Tập đoàn Tân Tạo trong ngày trao giải thưởng Hoa

Không chỉ là một người phụ nữ thành công trong sự nghiệp, chị còn là người có trái tim nhân hậu. Công việc kinh doanh bận rộn, nhưng trên đất Mỹ chị luôn hướng về quê hương với tâm sự ấp ủ: “Mình làm được tại đất khách quê người, thì tại sao mình lại không giúp đỡ nhiều hơn nữa cho người dân quê hương, cho những người nghèo khó Việt Nam giống như mình ngày trước”.

Được đến trường nhờ những thùng nước gạo

Đặng Thị Hoàng Yến sinh ngày 1/6/1959 trong một gia đình công chức nghèo và là chị cả 6 người em. Cha luôn dặn chị: “ Con là con chim đầu đàn, con bay theo hướng nào thì các em con cũng sẽ bay theo hướng đó”. Hiểu rõ được trách nhiệm lớn lao mà cha mẹ đặt vào mình, chị luôn cố gắng vượt khó vươn lên. Năm 1976, chị đỗ vào trường ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh. Do gia đình nghèo, nên con đường từ nhà đến trường dài hàng chục cây số, nhưng hàng ngày chị phải dậy từ rất sớm đi bộ đến trường.

Khi cha mẹ mua được chiếc xe đạp cho chị bằng tiền đi vay, thì hàng ngày chị lại kiêm luôn nhiệm vụ chở hai thùng đến khu tập thể để xin nước gạo, cơm thừa về nuôi heo. Chính nhờ những con heo đó mà mấy chị em Hoàng Yến được học hành. “ Có một kỉ niệm mà có lẽ không bao giờ tôi có thể quên, đó là có lần ba tôi đã cho tay vào mồm con heo để lấy cho được trái khế chặn trong cổ họng nó, mặc cho con heo cắn tới chảy máu lênh láng. Vì nếu con heo mà chết thì cả gia đình chúng tôi sẽ chẳng còn Tết nữa! Bây giờ mỗi khi nghĩ về cha, tôi lại thấy hiện lên hình ảnh người cha với bàn tay đầy máu, vì cái Tết của chúng tôi”, chị Yến nghẹn ngào kể.

Chính điều đó đã đi cùng năm tháng theo chị, đốt cháy trong chị khát vọng vươn lên để đổi đời. Năm 1980, chị tốt nghiệp trường ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh và được phân công về làm việc cho Quận 5 ( TP Hồ Chí Minh). Sau đó, năm 1992 chị được bổ nhiệm chức vụ giám đốc đầu tư của Trung tâm Xúc tiến Đầu tự trực thuộc UBND TP Hồ Chí Minh. Ở đây, chỉ trong 2 năm, chị đã thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài và nâng tiền đầu tư lên 1,5 tỉ USD.

Quyết chí làm giàu

Năm 1993, chị quyết định bỏ chức giám đốc đầu từ của trung tâm Xúc tiến Đầu tư, ra ngoài đi làm thuê cho các công ty nước ngoài với khát khao “ phải làm được cái gì đó tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội và tạo được nhiều công ăn việc làm cho những người nghèo”. Chị đã dành dụm từng đồng lương để thực hiện khát khao ấy. Khi có một chút vốn, chị thành lập công ty riêng. Đầu tiên, chị chọn vùng đất nhiễm mặn Tân Tạo thuộc huyện Bình Chánh, một trong những huyện nghèo nhất TP Hồ Chí Minh để khởi nghiệp. Không ít nhà đầu tư nước ngoài đến khảo sát vùng đất này rồi lại lắc đầu ra đi. Chị nghĩ: người nước ngoài ra đi thì chỉ có người Việt Nam mình mới có thể đánh thức mảnh đất quê hương mình. Chị đã bắt tay vào biến vùng đất sình lầy, ngập mặn kia thành khu công nghiệp được như ngày nay.

“ Nhìn vào sự thành công của Khu công nghiệp Tân Tạo ngày hôm nay, tôi không thể không nói lên sự biết ơn của mình đối với những đồng chí lãnh đạo như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – người đã kí quyết định đầu tiên giao đất cho một công ty tư nhân để làm khu công nghiệp và không thể không kể đến chị Nguyễn Thị Hiệp, anh Tam Bảo, Chủ tịch và Bí thư của huyện Bình Chánh, giáo sư Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư Đỗ Quốc Sam, đồng chí Trương Tấn Sang – Bí thư thành ủy và đồng chí Thanh Hải, chủ tịch UBND TP HCM khi đó. Các đồng chí đã mạnh dạn tin tưởng cho chúng tôi một cơ hội để tự khẳng định mình", chị Hoàng Yến nói.

Tính đến thời điểm năm 2008, chỉ riêng khu công nghiệp Tân Tạo đã thu hút hơn 300 nhà đầu tư trong nước và ngoài nước với tổng số vốn đầu tư thực hiện trên 600 triệu USD, tạo việc làm cho hơn 30.000 lao động.

Không ngừng vươn xa

Mặc dù đã trở thành người phụ nữ thành công và giàu có nhất Việt Nam, nhưng lời dạy bảo ân cần của người cha vẫn thôi thúc chị. Chị quyết định bay sang nước Mỹ để tiếp tục sự nghiệp kinh doanh đầy chông gai với mong muốn sẽ học được cách làm ăn chuyên nghiệp ở một cường quốc lớn nhất về kinh tế của thế giới.

Từ bỏ cuộc sống tiện nghi, chị một mình dấn thân sang nơi đất khách quê người, không người thân thích, không bạn bè. Vốn ít, kinh nghiệm kinh doanh quốc tế chưa có,cơ hội làm ăn thật mong manh, xa vời. Các ngân hàng đã ví chị như người ngoài hành tinh. Vì ở Mỹ, mỗi doanh nghiệp, mỗi con người được đánh giá qua độ tín nhiệm mà người ta gọi là Credit – Credit của chị là con số 0. Có lẽ khó ai có thể hình dung ra được những khó khăn, thử thách và chông gai trùng trùng điệp điệp đối với một nữ doanh nhân đơn độc nơi đế chế của nền kinh tế thị trường đã phát triển mất trăm năm.

Làm gì đây để vượt qua thử thách này? Phải tìm ra con đường mới, phải tìm lấy một cơ hội, dù chỉ là qua khung cửa hẹp. Chị tâm sự: “Việc đầu tiên tôi phải làm là tìm hiểu các quy định về thuế, miệt mài lướt web, đọc sách báo tìm thông tin liên quan, đầu tư bất động sản là lĩnh vực mà tôi đã có ít kinh nghiệm khi đã khởi nghiệp tại Việt Nam”

Bà Hoàng Yến làm việc với Đại học Harvard

Cuối cùng cánh cửa tưởng như kép kín cũng đã được chị bật tung ra và dự án đầu tiên được đầu tư bằng giấy phép đầu tư nước ngoài do Bộ kế hoạch và Đầu tư cấp: đầu tư xây dựng hạ tầng khu nhà ở trên diện tích 10.43 area ở Mỹ đã được khởi đầu và món nợ 500.000 USD chính là món nợ đầu tiên được ngân hàng cho vay, tiếp theo các dự án cứ lớn dần lên hàng năm. Chị đã xây dựng được chỉ số tín dụng của mình và của công ty bằng cách luôn trả lãi suất đúng hạn…

Bà tiên của người nghèo

Không chỉ là một người phụ nữ thành công trong sự nghiệp , chị còn là người có trái tim nhân hậu. Công việc kinh doanh bận rộn, nhưng trên đất Mỹ chị luôn hướng về quê hương với tâm sự ấp ủ: “ Mình làm được tại đất khách quê người, thì tại sao mình lại không giúp đỡ nhiều hơn nữa cho người dân quê hương, cho những người nghèo khó Việt Nam giống như mình ngày trước”. Từ suy nghĩ đến hành động, chị đã giúp người nghèo trên quê hương mua nhà trả góp, tài trợ cho giáo dục… Hàng chục năm qua, chị và Tập đoàn Tân Tạo đã xây dựng hàng nghìn căn nhà tình nghĩa, xây dựng nhiều trường học, tặng nhiều học bổng cho học sinh, sinh viên cả nước.

Chỉ trong 4 năm qua, Tập đoàn đã đóng góp gần 49 tỉ đồng để xây dựng hàng ngàn căn nhà tình nghĩa, tình thương, xây dựng trường học… để tặng cho các địa phương nghèo, tham gia tích cực vào hoạt động cứu trợ đồng bào bị thiên tai, bão lụt… trong nước và ở cả các nước bạn như Lào, Campuchia… Đặc biệt, tháng 5/2007,chị đã tự nguyện bỏ ra lợi nhuận làm ra được từ nước ngoài cùng tập thể Ban lãnh đạo Tập đoàn quyết định sáng lập 3 quỹ từ thiện xã hội. Thứ nhất ITA-Vì tường lai (dành cho những học sinh, sinh viên nghèo học giỏi). Thứ hai, ITA- Chiến thắng bệnh tật (dành cho trẻ em nhiễm chất độc màu da cam). Thứ ba, ITA Hàn gắn vết thương (dành cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng và người già không nơi nương tựa). Với mong muốn làm sao có thể đến được nhanh nhất, hiệu quả nhất với các đối tượng đang rất cần sự quan tâm, chia sẻ của xã hội.

Trong ngày ra mắt chính thức 30/9/2007, Qũy ITA-s đã dành số tiền hơn 21tỉ đồng cho các quỹ và chương trình từ thiện. Tháng 9 vừa qua chị và Tập đoàn đã tài trợ 1.480 suất học bổng cho “Hoa Trạng Nguyên” với niềm hy vọng các em rồi đây sẽ trở thành những cánh chim góp phần đưa đất nước Việt Nam phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 21. ITA với các hoạt động mạnh trải dài trên mọi miền đất nước, đến trực tiếp với những hoàn cảnh khó khăn cần được giúp đỡ, không phân biệt độ tuổi, giới tính, địa phương… đã và đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm, chú ý của nhiều đối tượng. Bên cạnh đó với lực lượng hơn 50.000 thanh niên công nhân đang công tác, Khu công nghiệp Tân Tạo là một trong những nơi có sự quan tâm chăm sóc về vật chất lẫn tinh thần cho lực lượng thanh niên công nhân tốt nhất với các chương trình hội thao, các tuần lễ văn hóa, các đêm diễn văn nghệ với sự tham gia của các nghệ sĩ nổi tiếng, các chương trình ngày hội việc làm, thăm và tặng quà cho công nhân ăn Tết xa nhà… được tổ chức thường xuyên, thu hút được hàng nghìn lượt thanh niên công nhân tham gia.

Cái tên Hoàng Yến không còn xa lạ gì với các em học sinh sinh viên thủ khoa trên cả nước và những công nhân nghèo. Nếu ai đã từng được nghe chị chia sẻ kinh nghiệm với học sinh sinh viên mới thấy hết được cái nhiệt huyết của chị với thế hệ trẻ. Mỗi lần đứng trước các sinh viên, chị không còn là một bà Chủ tịch tập đoàn lớn hay một người phụ nữ giàu nhất Việt Nam mà là một người mẹ, người chị cả đang truyền lại cho con em mình những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và hơn ai hết là những nghị lực và bản lĩnh mà chị đã từng trải qua để các em học tập mai sau ra đời lập nghiệp. “Khó khăn trong kinh doanh được ví như là cánh cửa đóng chặt nhưng nếu chỉ có một khe hở nhỏ đủ để một sợi tóc xuyên qua, tôi cũng sẽ bẩy tung cánh cửa đó để bước chân vào”, chị Yến chia sẻ. Còn khi được các em sinh viên và giáo sư đại học hỏi: “ Điều gì chị muốn khuyên các em sinh viên - những người chủ của tương lai nên tránh?” chị đã trả lời ngay, bởi nó đã có sẵn và đã trở thành lẽ sống của chính chị: “ Điều mà mình không muốn người khác làm với mình thì đừng nên làm”.


Hiện tại chị đang hoàn thành nốt dự án “ Xây dựng trường Đại học chất lượng cao Tân Tạo ở Long An”, chị nói: “ Đây là trường học dành cho các em học sinh, sinh viên nghèo, nhưng nó sẽ là trường Harvard riêng của Việt Nam".

Chị có sự nghiệp thành công rạng rỡ, nhưng chuyện gia đình của chị thật buồn. Nhiều năm trước, một vụ tai nạn giao thông đã cướp mất của chị người chồng thân yêu. Đến giờ khi nhắc về chồng, chị vẫn thẫn thờ: “ Mất anh là tổn thất lớn nhất trong đời tôi. Tôi đã nghĩ mình sẽ không vượt qua được nỗi đau này. Nhưng cuộc sống cứ trôi và chị phải giấu trái tim yếu đuối trong mình để gánh vác việc nhà, chăm lo dạy bảo con cái nên người.

Người mẹ dịu dàng

Hai người con gái của chị chính là động lực mạnh mẽ để chị đứng dậy và vươn lên như ngày nay. Các con gái của chị cũng luôn xứng đáng với sự hi sinh của mẹ. Cả hai đều ngoan và học giỏi. Cô con gái đầu của chị - Nguyễn Phương Anh, đã tốt nghiệp trường Đại học Oxford ( Anh) là một trong ba người được trường Kịch nghệ Hoàng gia Anh ( Royal Drama Academics School – RADA) chọn làm đạo diễn. Năm 2002, Phương Anh là một trong 10 sinh viên đạt điểm tuyệt đối về Luật của nước Anh. Đến năm 2003, Phương Anh lại đoạt giải nhì Văn chương toàn nước Anh và năm 2004 cô đoạt giải nhì cuộc thi phim danh cho các đạo diễn đang là sinh viên ở Anh. Hiện nay, cô quyết định tạm ngừng việc học để quay trở về Việt Nam tạo dựng một sự nghiệp mới còn rất non trẻ ở Việt Nam, đó chính là lĩnh vực truyền hình và công nghệ điện ảnh. Còn cô gái út năm nay cũng đã vào trường đại học và đang phấn đấu sẽ nối tiếp sự nghiệp kinh doanh của mẹ.

Đối với chị, con cái là điều quan trọng nhất. Do công việc kinh doanh, chị phải thường xuyên xa các con, nhưng khi các con cần thì chị luôn có mặt. Chị chia sẻ: "Mình không thể ở sát bên các con để đặt tay chỉ việc, mà phải biết nuôi dạy cho con có niềm đam mê, nuôi dưỡng cho con biết có một ước mơ lớn để chính các cháu tự phấn đấu theo đuổi ước mơ của đời mình. Điều quan trọng là bản thân mình phải luôn là tấm gương sáng để các con nhìn vào đó mà phấn đấu".


Gợi ý tìm kiếm: , , ,,, ,,  
Đọc thêm »

Hoàng Kiều: Triệu phú ... máu

Đó là câu chuyện thú vị về con đường khởi nghiệp của ông Hoàng Kiều, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành Công ty Raas (Hoa Kỳ), một Việt kiều Mỹ, đã đưa công ty của mình trở thành một trong 10 nhà cung cấp chế phẩm từ huyết tương hàng đầu thế giới; được Quốc hội Mỹ hai lần tặng danh hiệu “Doanh nhân nước Mỹ”.

Xin một cuộc hẹn với ông chủ Công ty Raas không đến nỗi khó lắm, chỉ có điều phải đăng ký khá lâu vì vào những ngày này ở Việt Nam ông đang miệt mài với những chuyến đi làm từ thiện. Chỉ trong vòng một năm qua tổng số tiền từ thiện mà ông thực hiện ở Việt Nam đã lên tới khoảng 30 tỉ đồng. Hoàng Kiều không giấu tham vọng “phấn đấu cho đủ 64 tỉnh, thành trong cả nước đều có nhà tình thương của Raas”.

Chuyện ông chủ Raas hào phóng làm từ thiện đối với người nghèo có lẽ bắt nguồn sâu xa từ sự đồng cảm sâu sắc của một người đã từng trải qua khó khăn, vất vả, đặc biệt hơn cả là quá trình dài gầy dựng cơ nghiệp.

Chạy và thăng tiến

Năm 1976, Hoàng Kiều đến định cư ở California, Mỹ, với một “hành trang”: vợ, năm đứa con nheo nhóc và… hai bàn tay trắng. Lúc đó, ông chỉ mới 30 tuổi. May sao, Hoàng Kiều bắt liên lạc được với Công ty Abbott, công ty mà ông từng làm việc khi còn ở Sài Gòn. Công ty này cử một tiến sĩ da màu phỏng vấn ông. Cuộc sát hạch diễn ra tốt đẹp.

Với Tổng thống Mỹ Bush

Hoàng Kiều được bố trí làm nhân viên của bộ phận xét nghiệm viêm gan siêu vi B trên các mẫu huyết tương thuộc Abbott. Lúc đó, Abbott là công ty duy nhất được Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép được làm dịch vụ xét nghiệm nói trên cho tất cả các công ty trên lãnh thổ Mỹ. Để hoàn thành công việc, Hoàng Kiều đã phải… chạy như điên. Cứ mỗi sáng, ông dậy từ 5 giờ tranh thủ đưa hai đứa con còn nhỏ đến nhà người quen nhờ trông giúp. Vì cả nhà chỉ có mỗi chiếc xe máy 50 phân khối do nhà thờ cho nên ông phải chở vợ đi làm, xong xuôi lại hối hả chạy thẳng đến trụ sở công ty. Ông làm việc ở đây cho đến tận 12 giờ đêm mới về nhà.

Đổi lại, nhờ sự tháo vát, cần mẫn, chỉ trong một thời gian ngắn ông đã trở thành giám sát viên và đúng một năm rưỡi sau được bổ nhiệm làm giám đốc phụ trách luôn bộ phận này. Ông còn kiêm thêm nhiệm vụ tiếp thị với tổng cộng 70 nhân viên dưới quyền. Việc một người châu Á mới sang định cư lên làm sếp và thăng tiến nhanh như vậy là một điều không dễ. Tuy nhiên, Hoàng Kiều đã cho thấy năng lực của mình. Ông không chỉ giúp công ty trong việc tạo nguồn tự chủ về tài chính cho bộ phận xét nghiệm mà còn là người đã sáng chế ra phương pháp thử để đo lường mức độ kháng thể và kháng sinh trên các mẫu huyết tương.

Sáu lít máu tiền vốn

Năm 1980, một sự kiện đã làm thay đổi con đường sự nghiệp của Hoàng Kiều. Công ty Abbott quyết định bán một bộ phận trong hệ thống của mình cho nước ngoài. Hoàng Kiều được đề nghị đầu quân cho công ty đối tác. Giữa lúc đang phân vân, một người bạn Mỹ vốn là khách hàng của công ty khuyên ông nên mở cơ sở kinh doanh, thay vì bán chất xám của mình một cách không tương xứng. Ông hiểu nhưng cái khó là tiền đâu để khởi nghiệp. Hồi đó, với mức thu nhập 30.000 đô la Mỹ/năm, tất cả ông phải trang trải nuôi gia đình, thậm chí còn thiếu trước hụt sau.

Dịp may đến khi có một công ty đề nghị được bán sáu lít huyết tương chứa kháng thể viêm gan siêu vi B với giá cực rẻ, chỉ bằng 1/10 giá thị trường. Ông quyết định bỏ ra 600 đô la Mỹ mua toàn bộ số huyết tương và sau đấy bán lại được tổng cộng 6.000 đô la Mỹ. “Công ty Raas đã được thành lập nhờ số tiền lời thu được trong thương vụ đầu tay này”- ông Kiều nhớ lại.

Lúc đầu, Raas có chức năng làm dịch vụ xét nghiệm huyết tương, tương tự như công việc Hoàng Kiều từng điều hành ở Công ty Abbott. Không có tiền thuê mặt bằng, có lúc phòng xét nghiệm của công ty phải tá túc ngay trong garage xe của gia đình. Ông Kiều một lúc phải quán xuyến nhiều việc: vừa làm chủ, vừa làm nhân viên xét nghiệm, vừa làm nhân viên marketing… Ông còn “chạy sô” thêm với công việc phụ trách khâu xét nghiệm cho một trung tâm thu mua và bán huyết tương tại California. Trung tâm này còn nhờ ông tìm mối bán hàng giúp với mức huê hồng rất cao.

Lao động cật lực cộng với niềm say mê đã giúp cho Hoàng Kiều tích lũy được một số vốn kha khá. Ông quyết định mở rộng hoạt động bằng cách mua lại một trung tâm thu mua huyết tương. Hàng của Raas bán chạy như tôm tươi. Hoàng Kiều thừa nhận việc ông từng giữ vị trí giám đốc bộ phận xét nghiệm của Abbott đã tạo một uy tín, thuận lợi đáng kể cho công việc kinh doanh của mình. Trên đà thành công, ông lại mua thêm trung tâm thứ hai, thứ ba… Có lúc, Raas sở hữu đến 11 trung tâm thu mua huyết tương. Rồi ông mở rộng đầu tư vào một khách sạn với tổng vốn lên tới 10 triệu đô la Mỹ.Từ cuộc gặp với Chu Dung Cơ

Nhưng có lẽ bước ngoặt lớn hơn cả là vào năm 1988, khi Hoàng Kiều quyết định đầu tư vào Trung Quốc. Qua khảo sát, ông nhận ra nhu cầu huyết tương trên thị trường nước này rất lớn trong khi kỹ thuật ở đây lại chưa đáp ứng được. Đó là lý do ra đời Công ty Raas Thượng Hải, liên doanh giữa Raas và Trung tâm Truyền máu và Huyết học Thượng Hải với tỷ lệ vốn góp 50/50-một ngoại lệ ở Trung Quốc vào thời kỳ đó (Theo quy định của Trung Quốc, vốn góp của bên nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 49%). Đích thân ông Chu Dung Cơ, Thị trưởng thành phố Thượng Hải lúc bấy giờ đã chủ trì cuộc họp bàn về tỷ lệ vốn góp và sau khi nghe “lý lẽ” của phía đối tác nước ngoài, ông đã nhượng bộ. “Hồi đó tôi nói rằng nếu chỉ cho chúng tôi 49%, tức là cổ đông thiểu số thì làm sao chúng tôi có thể cai quản và điều khiển công ty, nhất là đóng góp kỹ thuật tiên tiến cho ngành huyết học Trung Quốc? Cuối cùng tôi cũng đã thuyết phục được họ”, ông Kiều kể lại.

Để chuẩn bị cho các sản phẩm từ huyết tương do Công ty Raas Thượng Hải sản xuất thâm nhập thị trường Trung Quốc, Hoàng Kiều lập thêm một công ty khác chuyên lo việc thiết lập kênh phân phối. Ông còn tổ chức rất nhiều hội thảo về sản phẩm do ông tự thuyết trình, tự makerting tại các cơ sở y tế. Hình ảnh một ông chủ đích thân đến giới thiệu cặn kẽ, say sưa sản phẩm do mình làm ra đã làm cho Raas Thượng Hải nhanh chóng lấy được cảm tình của khách hàng. Ông muốn cho tất cả mọi người hiểu triết lý không bao giờ thay đổi của Raas, đó là “an toàn, chất lượng và hiệu quả”. Các chế phẩm từ huyết tương của Raas Thượng Hải đưa ra được thử từ 8-10 bước nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối trong khi hầu hết các chế phẩm được sản xuất theo công nghệ Liên Xô lúc bấy giờ bỏ qua những quy trình này.

Với bước đi bài bản như trên, Raas Thượng Hải đã nhanh chóng chiếm lĩnh 25-30% thị phần và trở thành nhà sản xuất hàng đầu về chế phẩm từ huyết tương tại Trung Quốc, đồng thời được xếp trong top 500 công ty lớn nhất của nước này. Sản phẩm của Raas còn xuất khẩu đi 30 quốc gia khác trên thế giới, trong đó một số sản phẩm như GamaRaas, HemoRaas, AlbuRaas chiếm lĩnh 100% thị trường ở các nước thuộc Trung Mỹ như Costa Rica, Colombia, Guatemela. Với công suất trên 2 triệu lít huyết tương mỗi năm, Raas trở thành nhà cung cấp lớn thứ ba trên thế giới, đồng thời là một trong 10 công ty trên thế giới sản xuất các chế phẩm từ huyết tương.

Với những thành tích trên, năm 1996 ông Hoàng Kiều đã được chính quyền thành phố Thượng Hải trao tặng danh hiệu “Công dân danh dự của thành phố Thượng Hải”. Đây quả là một vinh dự lớn đối với ông vì từ năm 1949 đến nay chỉ có 29 người được trao tặng danh hiệu này. Niềm vui càng tăng lên khi cả hai năm 2003 và 2005, ông đều được Quốc hội Mỹ tặng danh hiệu là “Doanh nhân nước Mỹ”.

* * *

Mặc dù thành đạt ở xứ người nhưng Hoàng Kiều vẫn nhớ về quê nhà. Cách đây vài tháng ông đã cho thiết lập văn phòng đại diện đặt tại TPHCM với dự kiến sẽ đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất chế phẩm huyết tương tại Việt Nam. “Chúng tôi dự kiến vốn đầu tư cho dự án này khoảng 50 triệu đô la và công suất của nhà máy sẽ khoảng 1-2 triệu lít/năm kèm theo một hệ thống gồm 70 trung tâm thu mua huyết tương. Sản phẩm chủ yếu sẽ phục vụ cho xuất khẩu”- ông Kiều cho biết.

Các chế phẩm từ huyết tương của Công ty Raas được sử dụng trong ngành huyết học và trong nhiều chuyên khoa khác nhau. Ví dụ như Hemoraas, Prothoraas, Fibtoraas dùng để đặc trị bệnh rối loạn đông máu (bệnh hemophilia A, B); Gammaraas dùng trong dự phòng nhiễm trùng, điều trị nhiều rối loạn miễn dịch; Alburaas sử dụng để điều trị phục hồi thể tích và thay thế protein huyết tương; Thrombiraas có tác dụng cầm máu tại chỗ trong nội khoa… Tất cả những chế phẩm này đều chưa sản xuất được tại Việt Nam. Một số bệnh nhân ở Việt Nam đã được chữa trị và cứu sống nhờ các sản phẩm trên của Công ty Raas mà ông Hoàng Kiều kịp thời gửi đến giúp đỡ. Như trường hợp anh Nguyễn Quang Vượng ở xã Xuân Lộc, huyện Xuân Trường (Nam Định) bị hemophilia, khi chuyển đến Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương gần như chỉ còn… chờ chết. Nhưng rất may, anh đã được cứu sống nhờ lô thuốc Prothoraas do ông Kiều gửi tặng.

Ông Hoàng Kiều cho biết Raas chuẩn bị đưa ra hai chế phẩm từ huyết tương rất độc đáo. Chế phẩm thứ nhất giống như một chất keo có tác dụng ngăn cản sự lan rộng của bướu ung thư. Chế phẩm thứ hai có tác dụng làm giảm chất mỡ xấu, tăng cao mỡ tốt, làm sạch sẽ màng chắn trong các mạch máu, phát huy tác dụng của các loại thuốc đặc trị bệnh gan bằng cách tạo màng chắn bao bọc gan để thuốc có thể trực tiếp đưa vào gan (hiện nay, các loại thuốc đặc trị bệnh gan đều không thể bơm trực tiếp vào gan nên hiệu quả thấp). Hai loại thuốc này đã có kết quả thử nghiệm tốt trên các con vật như thỏ, chuột và hiện đang thử nghiệm lâm sàng trên người.

Ngoài Công việc của một Doanh nhân thành đạt, Ông Hoàng Kiều còn được biết đến như một triệu phú của người nghèo.

Một ngày bình thường của ông bắt đầu bằng việc dậy sớm, thực hiện bài chạy bộ hơn 8 cây số trên con đường gần nhà ở Westlake, bang Cali. Hoàng Kiều, doanh nhân gốc Việt từng có dịp gặp gỡ Tổng thống George Bush khi ông đoạt giải Doanh nhân của năm tại Mỹ năm 2005 là một người nghiện công việc và nghiện... làm từ thiện.

Hiện là Tổng giám đốc của Tập đoàn chuyên cung cấp các sản phẩm từ huyết tương RAAS (Rare Antibody Antigen Supply Inc) có mạng lưới rộng khắp nước Mỹ và chi nhánh tại Trung Quốc, Hoàng Kiều vốn nổi tiếng là người chi mạnh tay cho các dự án từ thiện. Riêng tại Việt Nam, chỉ từ tháng 6.2006 đến nay, Công ty RAAS Hoàng Gia của ông đã chi đến 20 tỉ đồng để xây hơn 1.000 nhà cho người nghèo, cứu trợ lũ lụt và giúp đỡ các trẻ em tàn tật. Thông qua quỹ từ thiện của Báo Thanh Niên, ông đã đóng góp 1,5 tỉ đồng, trong đó 1,3 tỉ dành riêng cho việc xây 130 căn nhà tình nghĩa.

Rời Việt Nam năm 1975, Hoàng Kiều cùng vợ và 5 người con sang định cư tại Thousand Oaks, bang Cali. 31 năm sau, ông trở thành chủ nhân của một tập đoàn lớn có hai nhà máy sản xuất ở Thượng Hải và tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Dưới quyền ông là 1.000 nhân viên, trong đó 80% có bằng đại học, nhiều người có học vị tiến sĩ. Hiện nay, Shanghai RAAS chiếm 50% thị trường Trung Quốc và là công ty đứng đầu trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm từ huyết tương tại Trung Quốc, đồng thời có mặt trong top 500 công ty lớn nhất tại quốc gia này.

Đối với thị trường trên thế giới, công ty của RAAS tại Trung Quốc chỉ xuất cảng 20% tổng số lượng sản phẩm sản xuất ra hằng năm. Trao đổi với Thanh Niên, ông Kiều cho biết 3 sản phẩm chính yếu của tập đoàn này như GammaRAAS, HemoRAAS, AlbuRAAS hiện chiếm lĩnh 100% thị trường ở một số nước Trung Mỹ. Trong thời điểm hiện tại, chỉ có 10 công ty trên thế giới tham gia sản xuất các sản phẩm từ huyết tương với doanh thu mỗi năm 10 tỉ USD. Ông tự hào nói rằng RAAS là 1 trong 2 đại diện của Mỹ trong số 10 công ty này.

Trả lời câu hỏi của phóng viên Thanh Niên: liệu ông có ý định xây dựng tại Việt Nam một nhà máy tương tự như ở Trung Quốc không, ông Hoàng Kiều cho biết: "Đó là mơ ước của tôi. Tôi đã từng tiên phong giúp Trung Quốc trong lĩnh vực này, cho nên không có lý do gì để tôi không muốn lập lại vai trò đó ở Việt Nam. Nhưng hiện tại tôi đang nghiên cứu giải bài toán kinh tế bởi thị trường Việt Nam còn nhỏ, chỉ ở mức 5,7 triệu đô la mỗi năm".

Sinh ra tại làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, Hoàng Kiều xuất thân từ một gia đình nho giáo. Ông nội ông vốn là một vị quan triều đình Huế. Khi tâm sự với chúng tôi về ký ức tuổi thơ mình, Hoàng Kiều cho biết đó là những mái tranh nghèo. Ông còn nhớ, thuở ấy trong làng, chỉ duy nhất nhà của ông nội mình được lợp ngói đỏ. Sau bao nhiêu năm xa cách, ông về thăm lại quê hương, tuy là người có nhiều của cải trong tay, Hoàng Kiều vẫn đồng cảm với nỗi khổ của nhiều người dân nghèo phải sống dưới những mái nhà tạm bợ. Chỉ riêng 6 tháng trở lại đây, ông đã bỏ tiền xây 101 căn nhà cho đồng bào Quảng Trị, trong đó có căn nhà trị giá 500 triệu đồng cho một bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Bìa phải là Hoàng Kiều, bên cạnh ông là Nữ hoàng trang sức 2005 Vương Thị Thanh Tuyền, bìa trái là Linh mục Phan Khắc Từ trong một lần đến Trung tâm Thiên Phước thăm trẻ bị nhiễm chất độc da cam

Khi mới lên 5, cậu bé Hoàng Kiều được người chú - cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ - đưa vào Sài Gòn nuôi ăn học. Năm 1975, vài tháng sau khi đến Mỹ, Hoàng Kiều xin được việc làm tại Công ty dược phẩm Abbott. 5 năm sau, từ một nhân viên, ông đã lên đến vị trí giám đốc của bộ phận thử nghiệm và sản xuất sản phẩm làm từ huyết tương. Trong thời gian này, ông vừa học vừa làm. Công ty Abbott gửi ông đi học ngành Quản trị ở Đại học Santa Barbara từ năm 1976-1979. Bắt đầu từ năm 1980 đến năm 1994, trong vòng 14 năm ông đã xây dựng 11 trung tâm thâu huyết tương tại Mỹ, chỉ thâu phần nguyên liệu chứ không chế biến thành sản phẩm cuối cùng. Năm 1987, ông đặt nền móng cho cơ ngơi của mình tại Trung Quốc bằng việc thành lập Công ty sản xuất huyết tương Shanghai RAAS tại Thượng Hải. Đó là kết quả của nhiều năm trời làm việc mỗi ngày từ 5 giờ sáng đến tận 11, 12 giờ khuya.

Sau hơn ba thập kỷ lập nghiệp trên xứ người, đến nay Hoàng Kiều vẫn hằng ngày để tâm coi sóc việc kinh doanh. Hiện tại, Công ty RAAS Hoàng Gia ở Việt Nam đã giúp bán được các loại trái cây khô và tươi của Việt Nam vào các hệ thống Walmart, Carrefour, Metro, Lotus và các chợ lớn tại Trung Quốc. Theo ông, thị trường rộng lớn này rất hấp dẫn và chúng ta cần phải thâm nhập nhằm giúp nông dân trồng trái cây ở Việt Nam có đầu ra ổn định.

Càng lớn tuổi, doanh nhân Hoàng Kiều càng đam mê làm từ thiện. Vài ngày nay, từ Mỹ, ông liên tục cập nhật thông tin từ website Báo Thanh Niên về số nạn nhân của cơn bão số 9. Tối nay (10.12), ông Hoàng Kiều sẽ ủy nhiệm nhân viên của mình trao tặng 2,91 tỉ đồng tại đêm ca nhạc có chủ đề Nỗi đau nhân loại nhằm gây quỹ giúp các trẻ em bị nhiễm chất độc màu da cam tại Nhà hát Thành phố (TP Hồ Chí Minh). Trong đó, 1,6 tỉ đồng sẽ dành riêng cho việc cứu trợ các nạn nhân bão số 9 tại các tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long; 660 triệu đồng được dùng để tài trợ cho Hội Thiên Phước do linh mục Phan Khắc Từ sáng lập để phục vụ cho dự án xây dựng trung tâm nuôi dưỡng các trẻ em nhiễm chất độc màu da cam và trẻ mồ côi mắc bệnh hiểm nghèo tại quận 8, TP.HCM. Số tiền 650 triệu đồng còn lại sẽ được trao cho một số chương trình xây nhà tình thương và quỹ học bổng cho trẻ em nghèo.

Từ ngày xa xứ, ông Hoàng Kiều vẫn luôn canh cánh trong lòng nỗi nhớ quê hương. Những mái tranh nghèo ở Bích Khê ngày ấy chưa bao giờ phai nhòa trong tâm trí ông. Thông qua Báo Thanh Niên, ông Kiều muốn kêu gọi các nhà hảo tâm trong và ngoài nước hãy hành động để giúp đỡ những mảnh đời khốn khó. Khi được hỏi: "Ông có lời nhắn gửi nào dành cho các bạn trẻ ngày nay?", ông chỉ trả lời ngắn gọn: "Đời là một sự học không ngừng, vì vậy phải luôn luôn cố gắng vươn lên".

Hoàng Kiều: Triệu phú ... máu - Tổng hợp doanh nhân.

Gợi ý tìm kiếm: , , , , , ,  
Đọc thêm »

Trương Gia Bình: Doanh Nhân Xuất sắc

Trương Gia Bình sinh năm 1956, học sinh chuyên toán Chu Văn An Hà Nội. Tốt nghiệp khoa Toán cơ, Đại học Tổng hợp Moscow năm 1979. Bảo vệ thành công luận án PTS tại Đại học Tổng hợp Moscow năm 1983. Được nhà nước phong tặng danh hiệu Phó giáo sư năm 1990. Hiện là Chủ tịch HĐQT, TGĐ FPT.


Là người sáng lập FPT, là thủ lĩnh, là linh hồn của FPT, là nhà kiến trúc sư tài ba, tác giả của mô hình tập đoàn FPT, là trung tâm tập hợp lực lượng. Tất cả những danh hiệu đó chưa nói hết được vai trò to lớn của anh Bình đối với FPT.

Hầu hết những người quen biết FPT đều có chung nhận định: "Yếu tố quan trọng nhất quyết định thành công của FPT là nhờ FPT tập trung được một lũ quái nhân có sừng có mỏ, tâm huyết một lòng đi theo FPT từ lúc hai bàn tay trắng đến tận bây giờ". Anh Bình chính là người quan trọng nhất, có công lao lớn nhất trong việc tập hợp lực lượng, tập hợp nhiều hiền tài, đoàn kết, đồng sức đồng lòng vì sự phát triển và trường tồn của FPT.

Nếu như hầu hết các tài liệu về "thành công học" đều thống nhất nhận định: yếu tố đầu tiên quyết định sự thành công là "phải có hoài bão và ước mơ lớn", thì điểm nổi bật nhất của anh Bình chính là người có hoài bão và ước mơ lớn. Hoài bão và ước mơ của anh lớn đến mức mà mỗi khi anh đưa ra một hoài bão ước mơ mới thì hầu hết người thân và cộng sự của anh đều cho là viển vông và hầu như không ai tin là nó sẽ trở thành sự thật, chỉ riêng anh thì tin, tin một cách ngây thơ và trong sáng. Nếu chỉ có như vậy thôi thì chắc anh Bình không thể thành công. Điểm quan trọng nữa là anh Bình không chỉ tin mà anh còn có biệt tài thuyết phục mọi người tin theo mình, không chỉ thuyết phục mà anh còn đốt cháy cả người khác vì niềm tin cháy bỏng đó. Không chỉ tin, thuyết phục mà anh Bình còn quyết tâm cao độ, quyết tâm đến mức lì lợm, đi đến tận cùng để thực hiện ước mơ đó. Rất may mắn cho FPT là đến tận bây giờ phần lớn các ước mơ lớn của anh Bình đều đã và đang trở thành sự thật hay ít ra là chưa có ước mơ nào thất bại.

Năm 1988, khi mà chỉ có hai bàn tay trắng, anh Bình đã tập hợp được 13 cán bộ khoa học thành lập ra FPT và ước mơ "trở thành một tổ chức hùng mạnh". Năm 1990, khi mà lương của nhân viên FPT chỉ có 15 USD, với khoảng 30 nhân viên, anh Bình đã mơ ước xây dựng FPT trở thành tập đoàn hùng mạnh và anh bắt người FPT phải học theo mô hình tập đoàn của Daewoo và Misubisshi... Năm 1994 khi mà doanh số Tin học của FPT chỉ khoảng 4-5 triệu USD anh Bình đã mơ ước đưa FPT trở thành công ty số 1 Việt Nam. Năm 1996, khi FPT đã trở thành công ty Tin học số 1 Việt Nam thì anh Bình mơ ước FPT trở thành con chim đầu đàn của ngành Tin học Việt Nam. Năm 1998 khi FPT tròn 10 tuổi, trong khi mọi người FPT đang trong men say chiến thắng thì anh ước mơ xuất khẩu phần mềm với mục tiêu 5000 lập trình viên, 200 triệu USD xuất khẩu phần mềm và 8 tỷ USD trên thị trường chứng khoán. Vào năm 2003 này, khi mà doanh số FPT vào khoảng 200 triệu USD, anh Bình mơ ước đến năm 2008 FPT sẽ có doanh số trên 1 tỷ USD.

Anh Bình vừa là nhà lãnh đạo tài ba, vừa là nhà giáo tâm huyết vừa là triết học gia uyên thâm. Anh là tác giải của học thuyết về GEN công ty, học thuyết Fractal, về chiến tranh nhân dân trong quản trị kinh doanh, học thuyết về thác số-cầu vượt, học thuyết về Leadership Building... Anh có thể diễn thuyết say sưa về các lĩnh vực trên ở bất cứ đâu, cho bất cứ ai (từ Tổng bí thư, Thủ tướng đến các em sinh viên tài năng trẻ), miễn là người đó chịu ngồi nghe anh nói.

Vào cuối năm 1998, khi FPT tròn 10 tuổi thì Trương Gia Bình đã là một người nổi tiếng không chỉ ở Ấn Độ mà cả ở Mỹ. Còn ở Việt Nam quê hương ông, nơi mà một viên tướng nhỏ của FPT cũng dám mơ làm thủ tướng thì sự nổi tiếng của ông quả là không có giới hạn. Là một người thông minh, ông biết cơ hội của mình đã đến và là một người giàu tham vọng, ông không có ý định để cơ hội cứ thế trôi qua. Vào thời điểm năm 1998, ông và các cộng sự của mình đã dựng nên một công ty tin học có tiếng tăm lẫy lừng, bề thế hơn cả công ty Microsoft lúc mới ra đời. Lễ kỷ niệm 10 năm và lễ đón nhận Huân chương lao động hạng hai của công ty FPT là một sự kiện gây nhiều dư luận đến mức hàng tháng sau dân Hà Nội vẫn còn bàn tán.

Thông thường sau những thành công như thế thì người ta bắt đầu hưởng thụ. Nhưng Trương Gia Bình không phải là người thường. Ông chưa có ý định hưởng thụ và ông đã thuyết phục được hầu hết các cộng sự của mình có chung ý chí đó.

Trị Quốc

Trong những ngày này, câu hỏi duy nhất trăn trở trong đầu ông Bình là: làm thế nào để chuyển hướng FPT đang rất thành công ở các lĩnh vực khác sang xuất khẩu phần mềm?

Là con rể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng lỗi lạc nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20, ông Bình chịu ảnh hưởng nhiều phong cách lãnh đạo "lấy dân làm gốc" của vị tướng này. Ông không muốn quyết định một cách độc đoán, quân chủ. Ông thực tâm muốn thi hành dân chủ. Sẽ có những người vô trách nhiệm, phát biểu lung tung. Nhưng ông không sợ. Ông tin vào đa số sẽ ủng hộ ông. Nhân viên nào chống quá, cùng lắm ông cho nghỉ không ăn lương.

Một chiến dịch học tập và quán triệt tinh thần xuất khẩu phần mềm đã diễn ra, kết thúc bằng hội nghị tổng kết rầm rộ tại Đồ Sơn có tên là "Hội nghị Diên hồng" - trùng tên với một hội nghị nổi tiếng trong lịch sử của các vua Trần lấy ý kiến toàn dân nên hòa hay nên đánh giặc Thát vào thế kỷ 13.

Nhưng diễn biến của Hội nghị Diên hồng tại Đồ Sơn lại không hoàn toàn như dự kiến của ông. Tham luận đầu tiên gây sự hưng phấn rất cao là của Đỗ Cao Bảo với tiêu đề "Xây dựng một hình ảnh FPT mới". Là một tướng lắm tài, nhiều chiến công nên ông Bảo nói gì người ta cũng nghe. Ông Bảo cho rằng, FPT hôm nay không còn là công ty số một quốc gia mà là con chim đầu đàn, nên mỗi hành động của FPT sẽ được các công ty khác bắt chước, sao chép lại. Điều này vô cùng nguy hiểm vì khả năng sáng tạo của FPT không phải là vô hạn. Để khắc phục nhược điểm này, ông Bảo đề nghị là phải có một số hư chiêu. Xuất khẩu phần mềm nếu thành công thì tốt, ngược lại nếu thấy khó khăn quá thì ta vẫn thổi lên biến thành hư chiêu, dụ CMC lao vào cho bõ ghét.

Một công thần bảo thủ khác là ông Bùi Quang Ngọc cho rằng tin học trong nước vẫn là quả đấm thép. Phụ trách FPT phía Nam, ông Hoàng Minh Châu thì cho rằng phương hướng sắp tới của chi nhánh là xây trụ sở mới cho tương xứng với hình ảnh của một công ty đầu đàn.

Báo cáo của ông Phan Ngô Tống Hưng về vai trò của Phi tin trong hệ thống FPT "FPT phải đi bằng hai chân" lại càng làm cho "tiêu điểm xuất khẩu phần mềm" bị mờ hơn. Ông Lê Quang Tiến cũng ủng hộ ông Hưng, cho rằng, bây giờ khó khăn thì Phi tin mới là cứu cánh vì không phải bỏ vốn, không phải đầu tư...

Cho đến khi báo cáo đinh của Hội nghị "Chết hay là Xuất" do ông Nguyễn Thành Nam trình bày thì hầu hết mọi người đã bội thực về các định hướng chiến lược khác nhau. Mặc dù có tài biến báo, ông Nam cũng không thuyết phục được ai nhổ lúa để trồng cà phê xuất khẩu, kể cả việc ông đã hù dọa mọi người năm tới mất mùa lúa, c... cũng không có mà ăn.

Ông Bình rất buồn vì một ngày trôi qua mà chẳng thêm được tướng lĩnh nào chia sẻ quyết tâm "xuất khẩu phần mềm" của ông. Trong bữa nhậu tối, như thường lệ, ông Tiến lại cống hiến cho cử tọa các chuyện cổ kim đông tây, chuyện nào cũng buồn cười.

Khi ông Tiến kể đến đoạn "Lưu Bị than thở gần năm mươi tuổi đầu mà vẫn phải đi ở nhờ đất của Lưu Chương" thì ông Bình bỗng ôm mặt khóc hu hu, ai can cũng không được. Ông vừa khóc vừa nghẹn ngào nghe thật thương tâm: "Ta nay ngoài bốn chục tuổi đầu cũng chỉ biết mua rẻ bán đắt, một phần mềm cỏn con như Microsoft Office cũng không tự làm ra được, phải cúi mặt sài chùa. Nghĩ lại xấu hổ quá, thật không bằng cả cái tên Lưu Bị, Lưu Bịch ngày xưa, các ngươi bảo ta không đau lòng sao được!".

Chính cảm xúc chân thật trong lúc có hơi men của ông đã thuyết phục được mọi người và ngày hôm sau cả hội nghị đã nhất trí chào nhau bằng câu "xuất hay là chết". Hội nghị Diên Hồng tại Đồ Sơn có thể coi là hòn đá đầu tiên của công cuộc kiến tạo ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam mà ông Bình là người chủ xướng quan trọng nhất.

Những người không có cơ hội gần gũi ông Bình sẽ không bao giờ hiểu được ông là người có nghị lực và quyết tâm lớn lao nhường nào. Ông hiểu thành công của Hội nghị Diên Hồng tại Đồ Sơn chỉ là khởi đầu. Sự ủng hộ của các tướng lĩnh mới chỉ ở lời nói chứ chưa phải bằng việc làm. Mà ai cũng đang bận làm một việc gì đó, nên ông sẽ là người duy nhất trong lúc này phải lo giải quyết từng việc một. Ông Bình thuộc típ người, càng khó khăn, tiềm năng trong ông càng trỗi dậy.

Việc đầu tiên là ông nói chuyện với Lê Quang Tiến, Phó Tổng giám đốc Tài chính, một nhân vật đang giữ toàn bộ tiền của FPT. Vốn thông minh, nên ông Tiến nhanh chóng đồng ý xuất khẩu phần mềm là một định hướng đúng.

Nhưng là con người tài chính - rất thực tế, ông nghi ngờ khả năng cụ thể của đội ngũ phần mềm FPT nói riêng và Việt Nam nói chung. Sau nhiều ngày thảo luận ông Tiến đã đồng ý chi khoản ngân sách một triệu đô la Mỹ cho dự án đầu tư phát triển phần mềm xuất khẩu. Không biết một triệu là nhiều hay ít, ông Bình hoàn toàn thỏa mãn về nguồn lực tài chính đã được đảm bảo này.

Một vấn đề quan trọng khác đối với xuất khẩu phần mềm là quy trình sản xuất. Vào thời điểm đó FPT còn chưa có chính sách chất lượng. Các quy trình sản xuất kinh doanh hoặc chưa có, hoặc có thì cũng chẳng ra gì. Ông Bình nói chuyện với Lê thế Hùng, một bộ óc điện tử của FPT, phó tiến sĩ toán lý.

Rất yêu mến Trương Gia Bình, ông Hùng nhận ngay trách nhiệm xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng ISO 9001 cho toàn bộ các quá trình của FPT, trong đó đặc biệt chú trọng đến quá trình sản xuất phần mềm. Đối với ông Bình, FPT đã là công ty ISO 9001 ngay sau khi ông Hùng nhận lời, mặc dù tổ chức chứng nhận chất lượng quốc tế BVQI đến cuối năm 1999 mới công nhận điều đó.

Để triển khai kinh nghiệm 10 năm "con người là cốt lõi của thành công", ông Bình đã phát động một chiến dịch cầu hiền tài. "Chiếu cầu hiền tài" của ông đăng trên báo Chúng ta và được nhiều báo khác đăng tải lại đã gây xúc động mạnh mẽ trong giới trẻ. Hai câu lạc bộ tài năng trẻ FYT ra đời, quy tụ hầu hết những học sinh sinh viên giỏi nhất nước, trong đó có nhiều em vừa đoạt các giải cao trong các kỳ thi toán học, tin học quốc tế.

Một trong các nỗ lực cầu hiền tài đã đưa về FPT một ngôi sao sáng trong làng phần mềm Việt Nam lúc đó là Henry Hùng. Ông Henry là bạn học thời sinh viên với Phan Ngô Tống Hưng. Là người có hoài bão lớn lao và biết truyền cảm xúc sang người đối thoại, ông Bình không khó khăn gì trong việc thuyết phục ông Henry đang lạc lối giữa trời Tây về với FPT chính nghĩa. Chính ông Henry là người đưa khách hàng phần mềm quốc tế đầu tiên cho FPT: công ty Winsoft-Canada.

Một vấn đề làm đau đầu ông Bình là khả năng giao tiếp với thế giới. Do người Mỹ không nói được tiếng Việt nên chúng ta buộc phải nói tiếng Mỹ. Đây là bất lợi lớn nhất của Việt Nam so với Ấn Độ khi làm việc với thị trường Mỹ. Hệ thống giáo dục của Việt Nam trong nhiều năm qua không thực sự coi trọng dạy ngoại ngữ. Hầu hết các cử nhân tin học, ngoài tiếng Việt ra, chẳng nói được bất cứ một thứ tiếng nào khác.

Theo kinh nghiệm của bản thân, ông Bình hiểu rằng, quan trọng nhất đối với việc học ngoại ngữ là tạo ra được môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên. Vì vậy, ngoài các lớp học ngoại ngữ nâng cao, các kỳ thi toefl... ông yêu cầu mọi nhân viên phần mềm phải giao dịch và báo cáo bằng tiếng Anh. Lúc đầu các báo cáo đều rất ngắn, thường chỉ vài dòng. Nhưng sau hai tháng duy trì, có lúc ông đã rất ngạc nhiên khi nhận được báo cáo bằng tiếng Anh dài tới mấy chục trang.

Bình Thiên hạ

Ngày 13 tháng 6 năm 1999, một bộ phận tinh nhuệ từ Xí nghiệp Giải pháp Phần mềm FSS được tách ra thành một FSU (FPT Strategic Unit), lãnh ấn tiên phong thực hiện gia công phần mềm đầu tiên có tên là Life-Serve, một phần mềm bảo hiểm nhân thọ của công ty Winsoft.

Để động viên cán bộ của mình, ông Bình đã gọi họ là những chiến sĩ trên tiền tuyến và cam kết là những người còn lại - hậu phương lớn sẽ làm tất cả những gì cần làm để tạo điều kiện cho tiền tuyến chiến thắng.

Ông cũng phong cho hai đồng Giám đốc của FSU những chức vụ còn to hơn cả chính ông: Henry Hùng làm Chinh Tây Đại nguyên soái, Nguyễn Thành Nam làm Bình Tây Đại nguyên soái. Nhưng ông không phải là người dễ dãi. Ông nói với các nguyên soái của mình: các ngươi chỉ có một quyền duy nhất là chiến thắng.

Cuối tháng 06/1999, Trương Gia Bình cùng với Henry Hùng làm chuyến khảo sát thị trường Mỹ. Các ông đã đến thung lũng Silicon và gặp gỡ rất nhiều công ty tin học ở đây. Sau đó tại Seatle, hai ông đã có buổi tiếp xúc với phó chủ tịch Microsoft cùng đại diện của nhiều công ty khác.

Sau Seatle, hai ông đến Dallas và gặp gỡ 15 công ty phần mềm lớn nhỏ. Chuyến đi cho ông Bình thấy tiềm năng vô hạn của thị trường Mỹ và trong đầu ông ý tưởng mở văn phòng đại diện tại Mỹ đã chín muồi. Nói về chuyến đi, ông Bình kết luận: vấn đề quan trọng bây giờ là phải nhanh chóng tổ chức lực lượng.

Lúc này lực lượng làm phần mềm của FPT chỉ khoảng 70 người, trong đó số đang làm các hợp đồng nội địa khoảng 40 người. Cần phải tuyển thêm rất nhiều. Nhìn số lượng sinh viên các khoa CNTT tốt nghiệp hàng năm, ông Bình thấy yên tâm. Nhưng thực tế không phải vậy. Theo tiêu chuẩn tối thiểu mà Nguyễn Thành Nam đề ra cho lập trình viên như toefl 500, biết C++, Java, VB, DBMS..., hầu hết các ứng viên không đáp ứng được. Mặc dù họ rất thông minh, biết nhiều, nhưng tình trạng chung là "cái cần thì không biết".

Ông Bình suy nghĩ nhiều ngày về vấn đề này và đi đến kết luận, Việt Nam cần thiết phải có các tổ chức đào tạo chuyên nghiệp quốc tế mới có thể đào tạo các lập trình viên đáp ứng các tiêu chuẩn của ngành công nghiệp phần mềm.

Theo gương Đường Tam Tạng, ông cùng Nguyễn Thành Nam làm một chuyến du hành sang Ấn Độ với mục tiêu tìm lời giải cho bài toán nhân lực. Tại đây ông đã tiếp xúc với các công ty Tata, Aptech, NIIT, Inforsys... Thành công của những công ty này đã khiến ông sửng sốt. Chính những người Ấn tiên phong này đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách và tâm hồn ông, họ đã thổi bùng ước mơ lay lắt của ông thành một đám cháy khổng lồ.

Giữa tháng 9 năm 1999, FPT khai trương hai trung tâm đào tạo lập trình viên quốc tế FPT-Aptech. Aptech là công ty đào tạo hàng đầu của Ấn Độ, có hơn một ngàn trung tâm đào tạo trong nước và hơn hai trăm trung tâm đào tạo ở 30 nước khác trên thế giới. Ông Bình đã có thể tạm yên tâm về bài toán nhân lực để tập trung thời gian giải quyết những vấn đề khác.

Cuối năm 1999, ông Bình quyết định mở chi nhánh tại Bangalore. Khúc Trung Kiên được ông Bình phong làm Đại tướng và chiến trường Ấn Độ được gọi là chiến trường B, bí danh của chiến trường ác liệt nhất trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

Trong chiếu chỉ có đoạn: "Nay quyết định mở mặt trận phía Tây trên đất Ấn, lập đàn phong tướng, phong thiếu tá Khúc Trung Kiên lên chức Đại tướng FPT, tổng chỉ huyphương diện quân Ấn Độ, lập tức lên đường viễn chinh, giành thắng lợi về cho công ty".

Vì mục tiêu của FPT-India đặt ra quá chung chung nên tính thuyết phục không cao. Quyết định thành lập chi nhánh FPT tại Ấn Độ đã gây tranh cãi nhiều ngày trong hàng ngũ cán bộ tham mưu, nhưng ông Bình thấy không cần phải giải thích hay đính chính. Một số người có tính hài hước cho rằng, không có chi nhánh nước ngoài làm sao FPT có thể trở thành công ty quốc tế được!

Sự việc này chứng tỏ tầm nhìn của ông Bình cao hơn hẳn mọi người và đã vượt qua giới hạn thông thường của một giám đốc công ty.

Trên thực tế chi nhánh Ấn Độ không mang lại một lợi nhuận hay triển vọng lợi nhuận nào cả. Nhưng nó có một sứ mạng chính trị to lớn mà chỉ những người có tầm nhìn bao quát mới thấy hết được.

Ông Bình nhận thấy một FPT đơn độc sẽ có rất ít cơ hội thành công. Ông cần sự ủng hộ của chính phủ Việt Nam. Ông mơ ước viễn cảnh "nhà nhà làm phần mềm" sẽ trở thành hiện thực. Bản thân ông cũng bị bất ngờ khi thăm quan thung lũng phần mềm Bangalore - Ấn Độ. Ông muốn các nhà lãnh đạo Việt Nam được tận mắt chứng kiến những gì đã làm ông sửng sốt ở đây. Việc một công ty Việt Nam có chi nhánh ở thung lũng phần mềm nổi tiếng nhất châu Á là sự kiện có sức thu hút đặc biệt và trên thực tế nó đã lôi kéo được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Sau chuyến công tác của Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, các đoàn công tác của Chủ tịch Nước Trần Đức Lương, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã lần lượt đến thung lũng phần mềm Bangalore. "Trăm nghe không bằng mắt thấy", những chuyến đi này đã ảnh hưởng rất nhiều đến chính sách của Nhà nước đối với định hướng chiến lược xuất khẩu phần mềm một năm sau đó.

Vào những ngày đầu tiên của thiên niên kỷ mới, ông Bình đã quyết định cử Henry Hùng và Hồng Sơn sang mở văn phòng tại thung lũng Silicon. Hai ông này có nhiệm vụ đem cờ Việt Nam và cờ FPT cắm trên đất Mỹ.

Sự kiện này đã làm chấn động dư luận trong cộng đồng người Việt Nam trên toàn thế giới. Việt Kiều ở Mỹ tức tối, "chúng nó không cần vượt biên mà cũng sang được đây". Việt Kiều Anh-Pháp thì tò mò, "không hiểu chúng nó sang Mỹ làm gì"? Người Việt trong nước thì khâm phục. Dân FPT đi đâu cũng bị hỏi "chúng mày sang Mỹ làm gì đấy?" và câu trả lời bao giờ cũng là "đầu tư chứ còn làm gì nữa", "tại sao lại phải đầu tư bên đó?", "à, môi trường đầu tư ở đó an toàn hơn ở châu Âu".

Ông Bình đặt rất nhiều kỳ vọng vào Henry Hùng. Theo kế hoạch, trong ba tháng đầu ông Hùng phải đưa văn phòng Silicon vào hoạt động ổn định, sau đó sẽ bàn giao cho ông Sơn và đi mở văn phòng mới. Trong 2 năm, FPT sẽ mở thêm khoảng 15 văn phòng ở Bắc Mỹ. Mỗi văn phòng có trách nhiệm quí các hợp đồng trị giá ít nhất là 400K. Như vậy 15 văn phòng sẽ cung cấp các hợp đồng cho Việt Nam với tổng trị giá khoảng 6 triệu đô la Mỹ vào năm 2001.

Bị thôi miên bởi ý chí của ông Bình, Henry Hùng và Hồng Sơn lên đường sang Mỹ với một nỗi lo canh cánh, không biết mình kiếm được nhiều hợp đồng quá thì ở nhà có chuẩn bị đủ người thực hiện hay không?

Lúc này FPT đã cơ bản triển khai xong về mặt tổ chức cho hướng xuất khẩu phần mềm. Tổng hành dinh của FPT Software (viết tắt là FSOFT) nằm ở Hà Nội. Tại đây có FSU1 do Nguyễn Thành Nam trực tiếp phụ trách, FSU3 do Bùi Quang Ngọc chỉ huy. Trung tâm đào tạo Aptech được giao cho Nguyễn Khắc Thành, thường gọi là nghệ sĩ nhân dân, mặc dù chuyên môn của ông là phó tiến sĩ toán lý. Tại Thành phố HCM, trung tâm phần mềm được đổi tên thành FSOFT HCM, do Lê Trường Tùng và Nguyễn Quốc Hùng phụ trách. Trung tâm đào tạo Aptech do ông Tùng kiêm nhiệm. Công ty có chi nhánh quốc tế tại Bangalore và văn phòng đại diện tại Silicon Valey.

Kết thúc năm 2000, ông Bình nhìn lại những việc đã làm tuy khá nhiều nhưng vẫn còn quá chậm. Ông tâm sự với các cộng sự rằng quỹ thời gian của ông không còn nhiều, nếu không hết sức khẩn trương thì sợ già mất. Hơn nữa cơ hội cũng không đứng yên chờ ai.

Sau một năm quyết tâm làm xuất khẩu phần mềm, chiến công mà FPT thu được mới chỉ là Nà Ngần, Phay Khắt. Không có cứ điểm Điện Biên Phủ, cũng không có Tổng tiến công vào Sài Gòn...

Tại Hội nghị tổng kết năm 2000 Đại Lải, ông Bình quyết định phát động chiến tranh trong toàn công ty. Ông nói, người Việt Nam là thái âm, trong thời bình những biểu hiện của thái âm là sự trì trệ, là bệnh hoạn. Chỉ khi đặt trong hoàn cảnh chiến tranh, nước sôi lửa bỏng, sự trì trệ đó mới mất đi và những ưu điểm của người thái âm mới có cơ hội thể hiện rõ.

Ông Bình cũng trình bày rõ ràng nội dung của cuộc chiến tranh để toàn dân thảo luận. Mục tiêu của cuộc chiến là 528; thời hạn của cuộc chiến là từ 5-7 năm; phạm vi của cuộc chiến là toàn cầu; bản chất của cuộc chiến là chiến tranh nhân dân; tổ chức của quân đội là fractal; hậu phương là các bộ phận đang kiếm ra tiền; tiền tuyến là nơi tiêu tiền; trinh sát là văn phòng đại diện tại Silicon Valey...

Hùng Henry phải cung phụng bọn Mỹ để lấy hợp đồng. Khúc Trung Kiên phải tập ăn cà ri để hòa mình với dân Ấn. Trong nước mỗi người phải làm việc bằng hai. Các tướng lĩnh phải thắt lưng buộc bụng. Gian khổ không chỉ ngày một ngày hai. Nhưng khi thành công thì tất cả đều thành tỉ phú, bét nhất thì cũng triệu phú...

Tinh thần chiến tranh được phát triển sâu rộng đến từng bộ phận, từng chi đoàn. Các kỹ sư phần mềm được phong quân hàm cấp úy. Binh pháp Tôn Tử được mang ra thảo luận. Ông Bình mời cả vị tướng có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh nhân dân như tướng Hoàng Đan đến nói chuyện.

Nhân viên FPT gặp nhau toàn nói chuyện kỳ chính, chính kỳ, fractal, 528... Để cho dễ nhớ, ông Bình đã gói gọn mục tiêu của công ty vào 3 chữ số 528. Số 5 chỉ 5000 lập trình viên chuyên nghiệp của FPT vào năm 2005. Số 2 chỉ 200 triệu doanh số phần mềm xuất khẩu cũng vào năm đó. Số 8 chỉ giá trị của công ty tại thị trường chứng khoán Nasdaq là 8 tỷ đô la Mỹ.

Toàn thể nhân viên FPT hừng hực khí thế chiến tranh. Trở thành công ty bạc tỷ trong vòng mấy năm là một chuyện phi thường và người FPT đang quyết tâm làm chuyện phi thường.

Những vị lãnh đạo Nhà nước Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến công nghiệp phần mềm, nhưng sự quan tâm đó vào đầu năm 2000 vẫn chưa được thể hiện bằng hành động cụ thể. Chưa có nghị quyết của chính phủ về ngành công nghiệp này. Chưa có chính sách ưu đãi của nhà nước cho các công ty phần mềm. Nhà nước cũng chưa quyết tâm đầu tư. Ông Bình hiểu rằng, cần phải tiếp tục tác động.

Cuối tháng 3 năm 2000 một phái đoàn do công ty FPT phối hợp với Ban tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa và VTV đã tiến hành khảo sát ngành công nghiệp phần mềm Ấn Độ. Mục tiêu của chuyến đi này là học hỏi kinh nghiệm Ấn Độ trong lĩnh vực xuất khẩu phần mềm, để tiến hành tuyên truyền sâu rộng cho việc xây dựng và phát triển phần mềm xuất khẩu Việt Nam.

Ông Bình đã lên đài truyền hình Việt Nam và trước 80 triệu đồng bào cả nước kêu gọi "dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn" cũng phải xây dựng bằng được ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam hướng tới xuất khẩu. Không chỉ tuyên truyền trên truyền hình, ông còn đi đến Đà Nẵng, Cần Thơ giải thích và vận động những nhà lãnh đạo tại các tỉnh này ủng hộ xây dựng các công viên phần mềm địa phương.

Chiến dịch tuyên truyền sâu rộng với sự tham gia của tất cả các phương tiện thông tin đại chúng đã mang lại kết quả. Ai cũng nói về phần mềm. Chính phủ bàn về phần mềm. Tỉnh, thành phố, quận huyện cũng bàn về phần mềm. Hội thảo về "xuất khẩu phần mềm như một cơ hội thiên niên kỷ" đã diễn ra khắp nơi.

Quả thật là Việt Nam đang nằm trong tốp nghèo nhất thế giới và cơ hội bứt ra khỏi tốp này không phải là nhiều. Khẩu hiệu "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" vẫn tiếp tục chỉ là khẩu hiệu trong nhiều năm qua. Không có nhiều lựa chọn cho Việt Nam. Vì thế, dù cách thức đặt vấn đề có khác nhau, nhưng hầu như các hội thảo trong thời gian này đều đi đến một kết luận giống nhau: công nghiệp phần mềm là lối thoát duy nhất của Việt Nam. Từ vấn đề kinh tế, xuất khẩu phần mềm đã trở thành vấn đề chính trị, vì nó không chỉ mang về cho đất nước một ít ngoại tệ mà là mở ra cho đất nước một cơ hội phát triển.

Ngày 05/06/2000, Chính phủ đã ban hành nghị quyết về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000-2005 với mục tiêu: 50 ngàn lập trình viên, 500 triệu đô la Mỹ phần mềm xuất khẩu vào năm 2005. Ngày 17-10-2000, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa 8 đã ra Chỉ thị 58-CT/TW, trong đó nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin đối với sự phát triển đất nước.

Tiếp theo hai văn kiện quan trọng này là việc triển khai hàng loạt các chính sách ưu đãi dành cho các công ty phần mềm như: miễn thuế 4 năm cho các công ty phần mềm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, không áp dụng VAT với các sản phẩm phần mềm, thuế xuất nhập khẩu bằng không...

Đặc biệt các lập trình viên Việt Nam được tôn vinh, khi mức lương bắt đầu phải nộp thuế thu nhập nâng từ hai triệu lên tám triệu đồng. Các công ty phần mềm được sử dụng internet với tất cả các cổng dịch vụ không bị kiểm soát qua firewall... Nhà nước đầu tư vào các khu công viên phần mềm như Quang Trung, Hòa Lạc...

Những người làm phần mềm hân hoan thụ hưởng các chính sách mới này, nhưng không phải tất cả trong số họ đều biết đến công lao của ông Bình trong nỗ lực tác động hình thành chính sách.

Những người gần gũi ông nói rằng, trong hoàn cảnh thuận lợi, vai trò của ông rất mờ nhạt, nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, ông luôn tỏa sáng. Tư tưởng Thác nước và Cầu vượt của ông chưa được mọi người chia sẻ, nhưng ông sẽ thuyết phục được họ không sớm thì muộn. Dòng thác ông nói tới là dòng thác công nghệ và đội quân làm phần mềm chính là những cái cầu vượt mà Việt Nam phải cần tới, để không bị mặc kẹt trong tốp các dân tộc đau khổ nhất thế giới.

Gợi ý tìm kiếm: , , , , , 
Đọc thêm »