Hiển thị các bài đăng có nhãn Doanh nhân Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Doanh nhân Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Phạm Tiến Thịnh: Tôi không làm CEO S-Fone nếu quá ngon ăn

Phạm Tiến Thịnh sn 1966 - Đảm nhận vị trí Tổng giám đốc S-Fone vào đúng thời điểm mạng di động này khó khăn, ông Phạm Tiến Thịnh cho rằng đó là giai đoạn thử thách. Nếu quá “ngon ăn” ông đã không ngồi vào chiếc ghế nóng này.

Ông Phạm Tiến Thịnh trải lòng, sau 3 tháng nhận chức.

- Được mời về điều hành S-Fone trong giai đoạn hãng viễn thông này đang “thay máu” với ngổn ngang những thách thức, ông dự định sẽ tháo gỡ khó khăn ra sao?

- Thuyết tương đối của nhà khoa học vĩ đại Albert Einstein là một phát minh trong lĩnh vực vật lý học, nhưng nó đã, đang và sẽ luôn là nguyên lý và là quan niệm sống của tôi. Vì vậy, đối với tôi, thay đổi để cải thiện những cái đã được tạo ra và đang hiện hữu là việc tất cả chúng ta nên luôn cân nhắc. Trong quá trình thay đổi vì mục tiêu đó, luôn có những thách thức mà chúng ta cần phải vượt qua.

Việc S-Fone đang trong giai đoạn chuyển đổi mô hình kinh doanh cũng là một giải pháp để cải thiện hoạt động và nâng cao hiệu quả đầu tư của một doanh nghiệp. Trong đó, “thay máu” hay nói đúng hơn “thay đổi tư duy” là một giải pháp cần thiết và tối ưu.

Đối với tôi, những thách thức trong quá trình chuyển đổi này chính là hoàn thiện cơ chế hoạt động nội bộ và hoàn tất các thủ tục bên ngoài để chuyển đổi S-Fone từ mô hình hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) lên liên doanh (JVC). Tuy nhiên, tôi cảm thấy mình may mắn và rất tự hào vì nhận được sự hỗ trợ rất nhiệt tình từ Ban lãnh đạo của SPT và S-Fone. Thêm vào đó, bên cạnh tôi còn có cả một đội ngũ cán bộ nhân viên rất tâm huyết và đồng tâm hiệp lực trong giai đoạn này.

Tổng giám đốc điều hành mới của S-Fone - Phạm Tiến Thịnh. Ảnh: T.T.

- Điều hành một doanh nghiệp lớn, đang tăng trưởng đã khó, lãnh đạo một công ty trong giai đoạn khó khăn về vốn, về công nghệ, về cạnh tranh thị trường như S-Fone, vậy điều gì khiến ông nghĩ rằng mình sẽ thành công khi ngồi ở vị trí chiếc ghế nóng?

- Nếu được mời về điều hành doanh nghiệp trong giai đoạn ăn nên làm ra, chắc có lẽ tôi đã không nhận lời vì tôi là người có “máu” chinh phục thử thách. Ở đây, tôi muốn phân tích để hiểu rõ bối cảnh của S-Fone hiện nay để từ đó đánh giá, xây dựng chiến lược và kế hoạch giải quyết cụ thể tình huống đó.

Trước hết, về cơ chế hoạt động: Dự án S-Fone được cấp phép từ năm 2001 và chính thức phát sóng vào đầu tháng 7/2003 hoạt động theo mô hình BCC (hợp đồng hợp tác kinh doanh) giữa Công ty cổ phần Bưu chính Viễn thông Sài Gòn và Tập đoàn SK Telecom Hàn Quốc.

Ông Phạm Tiến Thịnh - Việt kiều Đức, có hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực viễn thông, từng đảm nhiệm vị trí quản lý cấp cao cho các tập đoàn đa phương tiện trên thế giới như Bertelsmann, T-Mobile International, Qualcomm, Telkom Indonesia Group, Indosat Group…

Tại thời điểm đó kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông di động chưa được mở rộng cho nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, với mô hình BCC, Chính phủ Việt Nam đã mở rộng đường cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực này nhằm khuyến khích những công nghệ tiên tiến “du nhập” vào thị trường Việt Nam. Vì thế, nhìn chung BCC cũng đã đạt được những hiệu quả nhất định.

Tuy nhiên trong quá trình vận hành, S-Fone đã đối diện với những thách thức về nhiều mặt như: Đầu tư; công nghệ; hạn chế trong các vấn đề pháp lý, vốn đầu tư, cơ chế điều hành từ mô hình BCC,… Đặc biệt là vì S-Fone đã triển khai hết các nguồn lực đầu tư và các điều kiện cam kết của hai bên theo BCC từ năm 2005 dù thời gian của BCC là đến năm 2016.

Trên thế giới, ở các nước phát triển, sự lựa chọn công nghệ của một nhà mạng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nhu cầu của người tiêu dùng trong nước, sự phát triển của công nghệ đó trên thị trường khu vực và thế giới, giá thành cho sản phẩm đầu cuối… Việc lựa chọn và định hướng công nghệ hầu như hoàn toàn nằm trong chiến lược của các nhà mạng và luôn là kết quả của một sự phối hợp hài hòa giữa các nhà mạng và các cơ quan chức năng cũng như giữa công nghệ và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Riêng tại Việt Nam, tiêu chí quan trọng của việc lựa chọn công nghệ lại là quá trình quy hoạch băng tần. Chính vì thế, chiến lược xây dựng công nghệ vẫn còn gặp nhiều thách thức chủ yếu là do nguyên nhân khách quan. S-Fone cũng phải đối mặt với những thách thức đó mặc dù công nghệ đang áp dụng là công nghệ CDMA tiên tiến với những ưu điểm đã được cả thế giới công nhận.

Và cuối cùng một trong những yếu tố cạnh tranh quyết định sự thành công đó là thị trường.

- Ông đánh giá như thế nào về thị trường viễn thông Việt Nam?

- Tôi xin tiếp phần đã trả lời ở trên. Thị trường viễn thông Việt Nam là một trong bốn thị trường phát triển nhanh trên thế giới trong hơn 5 năm qua. Với tốc độ tăng trưởng và số lượng nhà mạng hiện nay thì viễn thông di động là một trong những thị trường cạnh tranh rất khốc liệt, trong đó chiến lược về giá vẫn luôn là yếu tố quan trọng để chiếm lĩnh thị phần bên cạnh chất lượng dịch vụ sản phẩm, chất lượng phục vụ khách hàng.

Tôi nghĩ rằng thị trường viễn thông Việt Nam hiện nay còn rất nhiều tiềm năng cho bất cứ nhà mạng nào - thậm chí cả nhà mạng mới -nếu có một chiến lược rõ ràng và triển khai nó một cách triệt để. Bởi ngoài con số dự đoán mà các chuyên gia nghiên cứu thị trường đưa ra, với hơn 20 triệu người Việt Nam vẫn chưa có cơ hội tiếp cận với điện thoại di động thì vẫn còn một số phân khúc thị trường đặc thù nằm ngoài “vùng phủ sóng” của các nhà mạng.

Mặt khác, Việt Nam với hơn 2/3 tổng số dân có độ tuổi dưới 35 tuổi - một thị trường rất trẻ và đầy tiềm năng từ nhận thức đến nhu cầu tiêu dùng - là phân khúc thị trường hấp dẫn cho rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực hàng hóa/dịch vụ viễn thông di động. Tất cả các yếu tố trên đóng một vai trò rất quan trọng trong chiến lược và kế hoạch triển khai sắp tới của S-Fone.

- Có hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực viễn thông, từng đảm nhiệm vị trí quản lý cấp cao cho các tập đoàn truyền thông đa phương tiện thế giới. Những kinh nghiệm trong quản lý trước đây của ông đã giúp gì khi điều hành S-Fone?

- Tôi rời Việt Nam một mình khi còn bé, trưởng thành, được đào tạo và làm việc trong môi trường đậm chất văn hóa châu Âu. Vào những ngày khởi đầu trở về và làm việc tại các quốc gia châu Á, tôi cũng đã phải trải qua một quá trình dài để thích nghi trở lại với môi trường sống và làm việc đậm chất Á Đông này. Theo tôi mỗi doanh nghiệp có một nét văn hóa riêng, được xây dựng và cải thiện trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Một trong những việc mà một người lãnh đạo phải làm là thay đổi những gì cần phải thay đổi - vì doanh nghiệp và vì tập thể, trong đó có cả văn hóa doanh nghiệp.

- Vậy ông dự định áp dụng “chiêu bài" gì để lèo lái con thuyền S-Fone thành công để tránh nguy cơ bị đối thủ thâu tóm hoặc sáp nhập?

- Tôi nghĩ tôi đã nêu rõ những yếu tố chính để áp dụng cho các “chiêu bài” này. Tôi không nghĩ “thâu tóm” hay “sáp nhập” là một sự kiện tiêu cực. Chúng ta đã chứng kiến rất nhiều sự kiện tương tự xảy ra tại những thị trường khác tương tự như Việt Nam. Họ đã thành công và tiếp tục kinh doanh rất hiệu quả.

Trong quá trình S-Fone chuyển đổi từ BCC sang JVC, cơ quan chủ quản mạng S-Fone là công ty SPT cũng đã và đang tiếp xúc làm việc với một số đối tác tiềm năng trong và ngoài nước cho dự án S-Fone. Và khả năng SPT sẽ hợp tác với một đối tác nước ngoài là rất cao.

- Điều ông sợ nhất là gì?

- Sống một cuộc sống vô vị và không có ích cho xã hội.

- Ông chia sẻ một chút quan điểm về cuộc sống?

- Trung thực, tự trọng, biết người biết ta. Luôn đặt chữ NHÂN lên hàng đầu.

- Khi đứng trước một quyết định khó khăn, ông thường làm gì?

- Tôi luôn sống và làm việc vì mục tiêu. Và với tư cách là người lãnh đạo của một doanh nghiệp thì mục tiêu của tập thể luôn được đưa lên hàng đầu. Để đạt được mục tiêu đôi khi chúng ta phải có những hành động táo bạo để vượt qua và khắc phục những khó khăn trước mắt. Vì thế những tố chất mà một nhà lãnh đạo giỏi bắt buộc phải có: nhạy cảm, uyển chuyển, mạnh bạo và quyết liệt.

Ngoài ra, với một đội ngũ tham ưu rất tâm huyết và có năng lực như tại S-Fone, tôi luôn phát huy “Team spirit - Tinh thần đồng đội” và “Team work - Làm việc theo nhóm” để cùng nhau tìm một giải pháp hợp lý nhất.

- Ông thích nhất điều gì?

- Sự bình an trong tâm hồn.

- Nhân vật nào trên thế giới mà ông thích?

- Mẹ tôi, một người đã suốt đời sống vì gia đình và xã hội, một người đã luôn dạy dỗ và nhắc nhở tôi đặt ba chữ NHÂN, ĐỨC, TÍN lên hàng đầu trong bất cứ hành động nào của mình.

- Triết lý kinh doanh của ông là gì?

- Phải có “máu” kinh doanh và luôn hướng về mục tiêu cần đạt được với chi phí tối thiểu nhất.

- Theo ông, yếu tố nào được coi là cốt lõi và quan trọng nhất với một người lãnh đạo?

- Nhạy cảm cho từng tình huống.




Gợi ý tìm kiếm: , , , ,, , ,  
Đọc thêm »

Diệp Khắc Cường: Kinh doanh theo mạng thành công nhất tại Việt Nam

Chàng CEO – Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Mạng Lưới Hữu Nghị FNC, Diệp Khắc Cường cũng là người “truyền lửa” cho hàng nghìn bạn trẻ và phá tan những định kiến xung quanh ngành kinh doanh đa cấp tại Việt Nam.

Với những trao đổi cởi mở, thẳng thắn về lĩnh vực bị hiểu theo nhiều hướng khác nhau này, chúng ta sẽ có một cái nhìn nhiều chiều về kinh doanh đa cấp.

Bài viết này cộng với video ở dưới chỉ giới thiệu cho các bạn biết thêm về phần làm giàu của một người Việt Nam thành công trong MLM.
Không nhất thiết bạn chỉ chọn một con đường MLM để làm giàu. Vì mỗi công việc nào đó nó chỉ phù hợp với mỗi cá nhân nào đó thôi. Trên cuộc sống này có rất nhiều cách làm giàu và MLM là một cách làm giàu nhanh chứ không phải quá nhanh.
Cũng như các cách làm giàu khác bạn phải hoàn thiện kỹ năng trong các lĩnh vực đó. Ví dụ làm giàu về kiếm tiền online thì bạn phải rành về các cách kiếm tiền trên mạng internet, hay kinh doanh truyền thống thì bạn phải là một nhà lãnh đạo, giải quyết vấn đề tôt… Thì MLM cũng vậy cũng cần các kỹ năng cần thiết như bán hàng, làm việc nhóm, lãnh đạo, thuyết phục, truyền đạt…

Và đây là 1 buổi định hướng kinh doanh của Diệp Khắc Cường TGĐ- Chủ tịch HĐQT công ty FNC phân phối độc quyền về sản phẩm Tế Bào Gốc. Anh hiện nay 38 tuổi, nằm trong top 50 doanh nhân tiêu biểu, nằm trong 21 doanh nhân vì cộng đồng của cả nước.


Đi tìm sự khác biệt

Người Việt hiện nay vẫn chưa thiện cảm với bán hàng đa cấp nhưng FNC lại lựa chọn phương thức kinh doanh này, liệu có quá mạo hiểm?
Tôi không cho rằng đây là một lựa chọn mạo hiểm. FNC là công ty mới về tuổi đời nhưng những “cái đầu” đứng sau nó không hề mới mà rất dày dạn kinh nghiệm, sáng tạo và táo bạo. Tập đoàn FPT không dựa trên giá trị ảo mà dựa trên giá trị thật, FNC muốn được thành lập phải thuyết phục được Hội đồng tập đoàn FPT về thành công của mình. Chúng tôi đầu tư vào giá trị thực, sự khác biệt, tạo được bước đột phá. Việc phát triển sản phẩm của FNC dựa trên lộ trình cụ thể, phù hợp với thị trường. Tôi là người lái “con tàu” đa cấp, chịu trách nhiệm về thương hiệu của FPT, chịu trách nhiệm về cuộc sống của hàng nghìn con người nên tôi không được phép làm sai.

Kinh Doanh Đa cấp tạo nên Diệp Khắc Cường
Ông Diệp Khắc Cường

Nhiều người cho rằng kinh doanh đa cấp là cách làm giàu nhanh chóng?


- Đây là ngành kinh doanh có thể kiếm được nhiều tiền nhưng không quá nhanh. Nó phụ thuộc và tỷ lệ thuận với sự hoàn thiện bản thân, hoàn thiện các kỹ năng mềm của mỗi nhà phân phối sản phẩm.

Kinh doanh đa cấp đem tới công ăn việc làm cùng thu nhập cho nhiều người nhưng muốn thật sự thành công, làm giàu nhờ nó thì phải là người dành 100% tâm huyết cho nghề này, bằng không đừng nói đến chuyện làm giàu.

Điều kiện để trở thành nhà phân phối sản phẩm của FNC?

- Chúng tôi tìm kiếm những nhà phân phối có khả năng bán hàng cho nhiều người và bán được nhiều lần cho một người. Quan trọng hơn, nhà phân phối phải là người bán hàng mà không phải là người lôi kéo người khác. Đây chính là sự khác biệt lớn của FNC so với phần lớn các công ty kinh doanh đa cấp khác.

FNC giống như “trường đại học thứ hai” bồi đắp những kỹ năng phần mềm quan trọng giúp mỗi cá nhân trở nên tự tin hơn, có nhiều cơ hội thành công hơn. Tuy nhiên, tôi nhấn mạnh rằng chương trình đào tạo phải chuẩn và phù hợp với văn hóa địa phương.

Tuy nhiên giá thành của sản phẩm do công ty phân phối còn quá cao so với thu nhập của nhiều người Việt Nam?

- Việc lựa chọn phân khúc thị trường là quyền của mỗi doanh nghiệp. FNC đi tìm sự khác biệt khác biệt để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Thay cho việc luôn chú trọng tìm cách cho sản phẩm “phù hợp với túi tiền”.

Khách hàng là "người yêu"

Điều gì ở kinh doanh đa cấp đã thu hút anh?

- Bản chất tốt, phương pháp kinh doanh rất khoa học. Với kinh doanh đa cấp, người tiêu dùng học và hiểu về sản phẩm trước khi dùng nó. Thứ nhất, người tiêu dùng luôn được giới thiệu, học và hiểu sản phẩm trước khi quyết định dùng nó. Thứ hai, nếu đã là kinh doanh đa cấp thì sản phẩm phải cực kỳ tốt, khác biệt so với các sản phẩm khác, tính chất phải hết sức đặc biệt, đó là dòng sản phẩm công nghệ cao. Thứ ba, người tiêu dùng luôn được sử dụng sản phẩm chất lượng cao đồng thời được mua với giá hợp lý, nhiều ưu đãi khi họ đã trở thành “member” (thành viên).

Điều gì phân biệt giữa một người bán hàng đa cấp giỏi với một leader – thủ lĩnh của ngành nghề đó?

- Người làm leader (thủ lĩnh) phải luôn sẵn sàng tâm lý để trở thành người dẫn dắt người khác đi, phải có tầm nhìn, có sự đam mê công việc, đặc biệt phải có cái tâm.

Tính phức tạp và những hệ lụy thường có trong kinh doanh đa cấp, doanh nghiệp nào lại không nhận ra nhưng tại sao phần lớn họ không nghĩ cách giải quyết, kiểm soát trước khi vấn đề phát sinh? Đó là vì họ thiếu đi cái tâm, chỉ muốn thu lợi.

Quan điểm kinh doanh của anh?

- Vì người là cách vì mình khôn ngoan nhất. Mục tiêu tối thượng của doanh nghiệp là tìm kiếm khách hàng và giữ chân được khách hàng. Câu nói “khách hàng là Thượng đế” đã trở nên sáo rỗng.

Nếu khách hàng là Thượng đế, họ luôn luôn đúng song điều đó không tạo ra giá trị bền vững. Tôi quan niệm: Khách hàng là người yêu của mình.

Bên cạnh một Diệp Khắc Cường doanh nhân, nhiều người vẫn nhớ đến anh như một người nghệ sỹ. Hai tính cách đó dung hòa thế nào trong anh?

- Người doanh nhân thiếu đi tính lãng mạng trong kinh doanh, tâm hồn dễ thành cằn cỗi. Tôi có năng khiếu hài hước và âm nhạc. Thỉnh thoảng, trong các giờ thỉnh giảng tôi hát hoặc kể chuyện cười cho mọi người nghe, họ lại thấy thấm, tiếp thu hiệu quả hơn cả ba tiếng đồng hồ diễn giảng. Hơn mười năm đứng trên sân khấu ca nhạc đã giúp tôi rất nhiều trong kỹ năng đứng trước đám đông.

Nhiều người mến mộ khả năng “truyền lửa” và khẳng định đã học được rất nhiều từ Diệp Khắc Cường, còn bản thân Diệp Khắc Cường đã học từ đâu?

- Một phần là do thiên phú và phần khác do kinh doanh đa cấp. Ngành kinh doanh đa cấp đã làm nên Diệp Khắc Cường. Công chúng có thể không chấp nhận câu nói này nhưng vẫn có hàng nghìn người Việt Nam sẽ nói rằng tôi trưởng thành từ ngành đa cấp.

Tôi học từ lúc bắt đầu làm nghề bán hàng đa cấp, học từ các khóa học đào tạo của những tỷ phú nổi tiếng trên thế giới, hiểu được rằng đây là một nghề rất nhân bản nếu mình đi đúng, làm đúng.

Là doanh nhân trẻ và thành đạt, anh có thể chia sẻ điều gì với các bạn trẻ?

- Thực làm, thực học và thực sống. Không lựa chọn theo cảm tính, không chọn theo xu hướng mà chọn theo giá trị bản thân. Trong xã hội tri thức, sự cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt.

Trước kia, một người dám nghĩ, dám làm là có thể thành công. Hiện nay, người đó không chỉ dám nghĩ mà phải biết cách làm và làm tới tận cùng.

Anh có thể tiết lộ về hướng đi của FNC?

- Kinh doanh đa cấp chỉ là một mảng, FNC hướng tới đào tạo và sẽ trở thành một trung tâm đào tạo, trau dồi các kỹ năng phần mềm để hoàn thiện và phát triển bản thân, thể hiện tài năng, nắm bắt thành công…

Chúng tôi đang tiến hành tổ chức các kênh phân phối hàng độc quyền theo đúng chuẩn và dần nâng tầm thành một chuỗi cửa hàng mang tính chất siêu thị mini. Bên cạnh đó, FNC sẽ đào tạo lực lượng bán hàng face –to –face (trực diện) chuyên nghiệp, năng động.

Tương lai, khi FNC đã có chỗ đứng trong trái tim cộng đồng, các mảng hoạt động khác sẽ tiếp tục được mở rộng.


FNC được thành lập ngày 17/04/2010 và ngành nghề kinh doanh chính hiện nay là sản phẩm công nghệ tế bào gốc sản phẩm đã được ứng dụng và sử dụng khá thành công tại bệnh viện da liễu trung ương và viện bỏng quốc.






Gợi ý tìm kiếm: Doanh nhân 7x, Doanh nhân trẻ, Nam doanh nhân, Doanh nhân Hà Nội, Doanh nhân Diệp Khắc Cường, Diệp Khắc Cường, Tổng giám đốc, Cty cổ phần, 
Đọc thêm »

Hà Hùng Dũng: Tôi chỉ thích bay

Nhạc sĩ Hà Dũng: 'Tôi chỉ thích bay' - “Tôi tuổi Rồng nên chỉ thích bay. Đây chính là lý do tôi chọn hàng không là lĩnh vực để kinh doanh", Tổng giám đốc Indochina Airlines tâm sự.

- Người ta biết đến Hà Dũng là một nhạc sĩ. Tại sao ông không dành nhiều thời gian cho âm nhạc mà lại chọn hàng không?

- Nó là duyên nợ đấy. Tôi tuổi Rồng mà (Nhâm Thìn) nên chỉ thích bay. Thực tế, tôi đã kinh qua rất nhiều nghề, lĩnh vực nhưng quanh đi quẩn lại vẫn quay về kinh doanh hàng không - đó chính là cái nghiệp.

Cách đây mười mấy năm khi còn là trợ lý của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tôi đã từng xin thành lập Công ty cổ phần Air Sài Gòn. Thời ấy do gặp khó khăn về nhân sự và thủ tục nên không được bay. Nhưng rồi, giấc mơ bay của tôi cũng thành hiện thực bằng sự ra đời của hãng hàng không tư nhân đầu tiên Indochina Airlines.

Nhạc sĩ Hà Dũng. Ảnh: thoitrang.

- Indochina Airlines cất cánh trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó, nhiều hãng hàng không trên thế giới phá sản. Ông tin mình sẽ thành công ở thị trường VN?


- Tôi là người dám làm và luôn theo đuổi đến cùng mục tiêu đã lựa chọn. Hàng không là lĩnh vực khó và không dễ kiếm lời, đòi hỏi vốn trường và có sự am hiểu về nghề. Bạn biết tiền của các hãng hàng không nằm ở đâu không? Nó nằm ở chính dịch vụ bán cho khách hàng đấy. Chính vì thế các tổ chức tín dụng rất tin tưởng để bơm vốn vì họ nhìn thấy rõ độ rủi ro hay an toàn của đồng vốn.

Không hãng hàng không nào lại bỏ tiền túi ra mua máy bay hay các dịch vụ khác mà họ phải sử dụng vốn vay từ ngân hàng. Tôi nói ví dụ Vietnam Airlines vừa mua 10 chiếc ATR72 mấy chục triệu USD, tiền này họ cũng đi vay từ các tổ chức tín dụng. Chúng tôi cũng vậy, rất nhiều đối tác tin tưởng và đang cùng tham gia đầu tư với chúng tôi.

- Thời gian qua, Indochina Airlines liên tục bị nhà cung ứng nhiên liệu hàng không Vinapco đòi nợ tiền xăng với mỗi đợt lên tới vài chục tỷ đồng, ông giải thích sao về điều này?

- Trong kinh doanh, nợ nần là chuyện bình thường, lúc này ta nợ đối tác và lúc khác thì đối tác nợ ta. Bản thân trong đề án kinh doanh hàng không, chúng tôi cũng đưa ra kịch bản là lỗ trong 2 năm đầu. Hiện chúng tôi mới hoạt động được 7 tháng, giai đoạn đầu mà, có lúc nọ lúc kia, có lúc khó khăn, khi dư giả. Trên thực tế có hãng hàng không nợ tới hàng nghìn tỷ đồng đấy nhưng có ai nói gì đâu. Tôi cho rằng mình dở hơn người ta là số nợ của tôi quá ít so với họ thôi.

- Nhưng những "đôi co" về khoản nợ xăng đang khiến dư luận đặt câu hỏi phải chăng Indochina Airlines đang gặp khó khăn về mặt tài chính và có nguy cơ phá sản?

- Đây là những lời ác ý, đồn nhảm và tôi không bình luận. Tôi chỉ lấy làm lạ là một hãng hàng không mới ra đời trong đất nước gần 100 triệu dân mà mới có 7 triệu người có đủ điều kiện đi máy bay mà chúng ta không ủng hộ nhỉ? Lẽ ra khi người ta gặp khó khăn thì cần an ủi ít nhất về mặt tinh thần, đằng này cứ đồn thổi lung tung như thể muốn người ta chết cho nhanh.

Trước đây, chúng tôi từng ứng trước hơn 40 tỷ đồng cho phí nhiên liệu đấy thôi nhưng có thấy ai nói gì đâu. Trong khi đó, chúng tôi đang phải chi trả rất nhiều khoản như đào tạo phi công, tiếp viên, suất ăn, thuê máy bay, bảo dưỡng, kỹ thuật… xăng dầu chỉ là một trong số những khoản chi phí trên. Tôi cho rằng bất cứ một doanh nghiệp mới nào ra đời giai đoạn đầu cũng sẽ gặp khó khăn nhất định. Chúng tôi đang tập trung nguồn lực để xây dựng thương hiệu, hình ảnh công ty vì mục tiêu lâu dài chứ không phải trước mắt. Việc Vinapco dọa cắt xăng đã khiến chúng tôi thiệt hại rất nhiều, ảnh hưởng đến thương hiệu, khách hàng lo lắng hủy vé bay. Tôi không muốn đôi co mà cái này sẽ để cho lịch sử phán xét.

- Người ta biết đến ông không chỉ là doanh nhân mà còn là nhạc sĩ với rất nhiều “giai nhân” quanh mình, ông thích sự nổi tiếng nào trong hai vai trò ấy?

- Đúng là tôi từng sáng tác nhiều bài hát và cũng tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ nhưng tôi không phải là nghệ sĩ và cũng đừng gọi tôi là nhạc sĩ. Tôi là một người làm ăn và thích nghề kinh doanh. Tôi coi sáng tác nhạc chỉ là để cuộc sống thêm thi vị.

Kinh doanh đem lại cho tôi nhiều thành công song cũng không ít thất bại nhưng tôi luôn coi thất bại là bài học lớn nhất để thành công. Tôi không có thói quen ngồi gặm nhấm quá khứ hay nhẩm tính xem mình đã bao nhiêu lần thành công và bao nhiêu lần thất bại, chỉ biết rằng, tôi là một người tốt và luôn làm mọi việc theo đúng cái tâm của mình. Tôi đã từng mắc nợ một dự án, ấy là thời kỳ tham gia thành lập Tổng kho phân phối phân bón miền Nam. Dự án thất bại, tôi đối mặt với khoản nợ khổng lồ, bị giám sát trong 3 năm và yêu cầu trả đủ nợ. Nhưng phải 6 năm sau tôi mới trả hết. Sau cú sốc ấy tôi rút ra rất nhiều bài học kinh nghiệm trong kinh doanh.

- Trong mỗi con người có một “gót chân Asin”, vậy điểm yếu của ông là gì?

- Tôi không có điểm yếu và cũng chẳng sợ gì. Sống qua tuổi này, tôi thấy mình đã “quá lời”. Nỗi sợ lớn nhất của đời người là cái chết nhưng tôi chẳng bao giờ sợ chết vì tôi sống đến chừng này tuổi là quá đủ rồi.

Cũng phải nhìn nhận rằng ông trời cho tôi nhiều thứ nhưng tôi không bao giờ hưởng thụ một mình mà chia sẻ cho rất nhiều người. Đôi lúc tôi cảm thấy mình như trạm trung chuyển giữa trời và người - ông trời cho tôi nhiều thứ và tôi mang những thứ đó chia sẻ cho nhiều người. Tôi không phải là người mê tín nhưng luôn tin rằng có thế lực thứ 3 mà chúng ta chưa thể chạm tới hoặc không lý giải nổi. Tôn giáo từ đó mà ra và không phải vô duyên vô cớ mà có quá nhiều người tin và theo một tôn giáo, một đạo nào đó. Đôi khi ta đề ra nhiều kế hoạch nhưng không thể thực hiện được vì bàn tay của thế lực thứ ba lái theo chiều hướng khác.



Gợi ý tìm kiếm:  , , , ,, , ,  

Thông tin Hà Dũng.

Hà Dũng (sinh năm 1952) là một nhạc sĩ, doanh nhân Việt Nam. Tuy từng là một nhạc sĩ, có nhiều thông tin liên quan với một số người đẹp, ca sĩ như Hồ Quỳnh Hương, Quách An An,...[1], nhưng nhiều người biết ông với tư cách là người sáng lập Hãng hàng không Indochina, hãng hàng không tư nhân thứ hai và hãng hàng không thứ năm của Việt Nam.

Khởi đầu sự nghiệp

Nguyên tên ông là Hà Hùng Dũng, sinh tháng 10 năm 1952, con cả trong gia đình có 5 anh em. Được cho là sống xa gia đình từ nhỏ, năm 1972, ông tốt nghiệp phổ thông khi đã 20 tuổi. Tuy nhiên, chỉ 1 năm sau, ông được cử sang Liên Xô để học bậc Đại học và tốt nghiệp năm 1979. Sau khi về nước, ông thăng tiến rất nhanh trong sự nghiệp, lên đến chức Vụ phó và từng là một vụ phó trẻ nhất Việt Nam. Giữa tháng 4 năm 1982, ông làm trợ lý cho ông Võ Văn Kiệt, bấy giờ là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Giữa năm 1988, ông thôi việc, bắt đầu chuyển hướng làm doanh nhân.

Chuyển sang làm doanh nhân

Năm 1990, ông sang Mỹ và tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại đây. Cũng trong thời gian này, ông bắt đầu bước vào lĩnh vực hàng không. Năm 1997, ông thành lập Công ty Việt Hà, đại diện cho hãng Boeing tại Việt Nam, tư vấn chương trình nhà máy phát điện, kinh doanh địa ốc, tài chính...
[sửa]Bước vào giới nghệ sĩ

Từ năm 2002, ông bắt đầu được công chúng biết đến với vai trò là nhạc sĩ, qua các ca khúc "Hoài niệm", "Vào đời", "Tình yêu đợi chờ"..., cũng như những tin đồn về mối liên hệ với ca sĩ Hồ Quỳnh Hương. Năm 2006, ca khúc "Niềm hy vọng" do ông sáng tác và ca sĩ Hồ Quỳnh Hương trình bày đã đoạt giải Bài hát của tháng trong chương trình Bài hát Việt. Cho đến năm 2008, ông có 17 tác phẩm đã được trình diễn[cần dẫn nguồn].
Hà Dũng gần như công khai đời sống tình cảm của mình và các dính líu với một số người đẹp, ca sĩ như Hồ Quỳnh Hương, Quách An An,...[2]

Giấc mơ bay không suôn sẻ

Là đại diện của Boeing tại Việt Nam, có khả năng tài chính cũng như mối quan hệ với các quan chức cấp cao, ông đã có ý định thành lập một hãng hàng không tư nhân để nhanh chóng chiếm lợi thế trong thị trường hàng không Việt Nam chuẩn bị bước vào giai đoạn cạnh tranh. Công ty Cổ phần Hàng không Tăng Tốc, với tên giao dịch AirSpeedUp JSC, với vốn điều lệ ban đầu là 200 tỷ đồng được cấp giấy phép thành lập từ tháng 5 năm 2007 và đến tháng 5 năm 2008, được cấp chứng nhận vận chuyển hàng không. Đây chính là tiền thân của Hãng hàng không Indochina, hãng hàng không tư nhân thứ 2 và là hãng hàng không thứ năm của Việt Nam.

Để chớp thời cơ, Indochina Airlines quyết định "tăng tốc". Ngày 25 tháng 11 năm 2008, chuyến bay thương mại đầu tiên chở ban lãnh đạo Hãng và một số hành khách đã cất cánh từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Hà Nội[3]. Indochina Airlines trở thành hãng hàng không thứ 3 của Việt Nam cất cánh, sau Vietnam Airlines, Jetstar Pacific Airlines, trước cả VietJet Air.

Tuy nhiên, chỉ sau 1 năm hoạt động, hãng đã rơi vào thua lỗ, buộc phải dừng bay và ngừng hoạt động dù không tuyên cáo phá sản. Cho đến nay, do những khó khăn tài chính, hãng vẫn chưa thể hoạt động trở lại, dù Chủ tịch Hà Dũng nhiều lần tuyên bố sẽ bay lại. Bên cạnh đó, ông còn bị cáo buộc về việc nợ lương nhân viên của như nợ đối tác.
Đọc thêm »

Đỗ Quang Hiển: Thất bại bạc tỷ của bầu Hiển

Tin vào sự trợ giúp tới 70% của ông Trời, bầu Hiển âm thầm làm việc và thỉnh thoảng làm quả sốc, khi là thương vụ thành công trong kinh doanh, lúc vinh danh trên sân cỏ.

Ông Đỗ Quang Hiển là Chủ tịch Tập đoàn T&T, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB). Ông không chỉ được biết đến với những thương vụ đầu tư trong các lĩnh vực công nghiệp, tài chính, bất động sản mà còn gây "ồn ào" trong đời sống bóng đá Việt mấy năm qua bởi sự mạnh tay chi tiền và có phần hơi... kỳ bí của mình. Chẳng biết từ khi nào, giới mê bóng đá gọi ông bằng cái tên đầy thân mật - bầu Hiển.

Bầu Hiển lúc nào cũng tươm tất. Mọi người ấn tượng ông ở thái độ nhỏ nhẹ, bình tĩnh trong công việc, hầu như chưa bao giờ trên sân cỏ thấy ông phấn khích thái quá hay vung vãi ngôn từ. Chính vì cái kiểu "yêu thể thao" rất riêng này nên đôi lúc chẳng thể đoán nổi ông có máu bóng đá hay không.

"Tôi không thích nói nhiều mà muốn khẳng định bằng việc làm", bầu Hiển tâm sự với VnExpress.net. Nếu để tự nói về mình, ông chỉ gói gọn một câu rằng đơn giản rằng: "Tôi là người may mắn và thành công đạt được có sự trợ giúp tới 70% của ông Trời. Vì lẽ này mà tôi không cho phép mình dừng lại. Bởi nếu dừng lại tức là tôi đã phụ công trời đất, phụ công những gì cuộc đời dành cho tôi", bầu Hiển nói.

Khát vọng của bầu Hiển là có tên trong danh sách tỷ phú đôla của thế giới. Ảnh: Hoàng Hà.

Theo ông, đã là kinh doanh, ai cũng mong đạt được mục đích, mà đích cuối cùng là lợi nhuận. Tuy nhiên, có một cái khác lớn lao hơn, vượt trên tiền bạc và danh vọng mà nhiều doanh nhân cũng như ông đang phấn đấu không ngừng nghỉ, đó là giá trị thương hiệu, uy tín xã hội và niềm đam mê cá nhân.

Ở cái tuổi đã đạt được độ chín về trải nghiệm, bầu Hiển được đánh giá là một trong số doanh nhân thành công. Thế nhưng, có một bầu Hiển khác mà ít ai biết đến đó là những thương vụ thất bại, đang đứng ở ngưỡng thành công lại ngập sâu trong nợ nần. Chính từ những thất bại này đã hình thành trong ông một quan điểm sống, quyết tâm thực hiện mục tiêu. Và cũng từ đây, bầu Hiển đã tìm cho mình một triết lý kinh doanh duy nhất là "cẩn thận không bao giờ thừa". Có nghĩa là không có ai đứng mãi ở vị trí dẫn đầu, và thành công không bao giờ là vĩnh cửu, nếu không có sự chuẩn bị, thất bại có thể ập đến bất cứ lúc nào.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình công chức mẫu mực ở Hà Nội, sau khi tốt nghiệp ĐH Tổng hợp khoa Vật lý, kỹ sư Đỗ Quang Hiển về công tác tại Đài Phát Thanh Hà Nội. Chưa đầy 3 năm sau, ông chuyển sang làm tại Công ty Điện tử Hà Nội rồi Viện nghiên cứu Công nghệ Quốc gia. Cứ ngỡ kỹ sư Đỗ Quang Hiển sẽ gắn cả đời mình với công việc ở Viện nghiên cứu vì ở đó môi trường làm việc phù hợp với năng lực và hoàn cảnh gia đình. Tình cờ do cơ quan phân công, ông có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với thị trường, và rồi ngẫu nhiên, sự sôi động trong kinh doanh đã cuốn hút ông và trở thành niềm đam mê thấm trong từng huyết quản từ lúc nào không rõ.

Có tín với bạn hàng, lại được đối tác và bạn bè khích lệ, ông quyết định “dấn thân” vào kinh doanh, mạnh dạn nhận làm đại lý độc quyền cho một số hãng điện tử nổi tiếng như Panasonic, National, Mitsubishi… Những năm làm đại lý cho các hãng điện tử tên tuổi, Đỗ Quang Hiển đã tích lũy cho mình được những kinh nghiệm về thị trường và một hệ thống phân phối rộng khắp mà nhiều người mơ ước. Năm 1993 được coi là bước ngoặt lớn trong cuộc đời, ông xin ra khỏi biên chế nhà nước, thành lập Công ty TNHH T&T hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh các mặt hàng điện tử, điện lạnh, điện gia dụng. Bằng sự nhanh nhạy, linh hoạt, chịu khó tìm tòi học hỏi và những trải nghiệm trong thực tế, kỹ sư Đỗ Quang Hiển đã từng bước đưa T&T vượt qua khó khăn của những ngày đầu khởi nghiệp và khẳng định uy tín trên thương trường.

Hồi những năm 1995-1996, sản phẩm của ông được xếp vào diện bán chạy trên thị trường với doanh thu rất cao, thị phần tiêu thụ ngày càng được mở rộng. Ông như người đi trong mơ với kết quả đạt được khá ấn tượng này. Thừa thắng xông lên, bầu Hiển đặt lệnh đưa hàng về chất đầy kho. Thế nhưng thương vụ năm ấy, bầu Hiển tổn thất nặng do bị hàng lậu cạnh tranh. Số nợ lên tới gần 40 tỷ đồng, gồm 7 tỷ đồng tiền thuế nhập khẩu và trên 30 tỷ đồng nằm trong kho. Ngân hàng thúc nợ, cơ quan thuế phát lệnh truy thu, bầu Hiển rơi vào tình cảnh khó khăn chưa từng có. Lúc bấy giờ, ông mới giật mình nhìn lại xung quanh chẳng có ai gánh hộ món nợ và có thể chung tay cùng ông vượt qua giai đoạn khó khăn.

"Tôi đã nói với anh em rằng, tôi là kẻ thất bại và khó khăn mình tôi sẽ gánh chịu chịu. Tôi đã quyết định sai, tôi sẽ là người đứng ra gánh vác trách nhiệm", ông nói. Bầu Hiển đau đớn quyết định "giải phóng" nhân viên giỏi sang làm việc ở đơn vị khác vì không muốn họ vì mình mà lỡ dở sự nghiệp. Những người còn lại ông động viên cùng mình vượt qua khó khăn và ông hứa sẽ mang lại cuộc sống tốt đẹp cho họ và gia đình. Lời hứa của ông đã mang lại giá trị, sau khoảng một năm lăn lộn ra thị trường, cùng bán hàng và chào sản phẩm ở khắp mọi nơi, bầu Hiển đã bước đầu "gỡ" được vốn. Lượng hàng tồn trong kho được giải phóng và ông cũng dần lấy lại được thị phần. "Quả là khi ấy tôi thấm thía được thế nào là nỗi cơ cực của kẻ bị thúc nợ", bầu Hiển tâm sự.

Cũng chính lúc khó khăn nhất, bầu Hiển hiểu rằng nếu chỉ kinh doanh thương mại thuần túy, làm đại lý cho nước ngoài, rủi ro cao và ông sẽ mãi chỉ là người phân phối sản phẩm, gia công và mượn thương hiệu của người khác. Chẳng có cái gì là của riêng ông và làm lên giá trị của chính mình.

Năm 1998, bầu Hiển quyết định đầu tư sang lĩnh vực lắp ráp xe máy. Khi quyết định chuyển hướng kinh doanh, ông nhận thấy xe máy là thị trường tiềm năng mà chưa có doanh nghiệp nào tham gia. Xe máy lúc bấy giờ cũng là phương tiện mơ ước của nhiều người. Nghĩ là làm, năm 2000, nhà máy sản xuất động cơ xe máy T&T Hưng Yên ra đời với số vốn đầu tư khoảng 20 triệu USD. Đến năm 2003 chiếc xe máy đầu tiên mang thương hiệu Việt ra mắt thị trường, với tỷ lệ nội địa hóa đến 90% và giá rẻ bằng 1/3 sản phẩm ngoại.

Xe máy mang hiệu T&T ra đời đã nhanh chóng nhận được sự cảm tình của và trở thành phương tiện phục vụ đời sống của người dân VN tại các vùng nông thôn. T&T cũng tiến hành xuất khẩu sang các nước Nam Mỹ và châu Phi đạt kim ngạch 5 triệu USD mỗi năm. T&T còn có thế mạnh trong các sản phẩm khác như điều hòa không khí Kamikaze, điện thoại di động Bird. Điều hòa Kamikake (Gió thần) hiện đang chiếm 20% thị phần miền Bắc và phát triển tại Nam Bộ và miền Trung.

Năm 2005, T&T chuyển sang lĩnh vực tài chính theo đúng mô hình phát triển của một tập đoàn như góp vốn đầu tư ngân hàng, công ty chứng khoán, Quỹ đầu tư, Bảo hiểm, mở công ty bất động sản.

Khi sự nghiệp kinh doanh đã đạt được độ chín, ông mới quyết định theo đuổi niềm đam mê từ nhỏ của mình ở bộ môn bóng đá. Ông đặt tham vọng xây dựng một nền công nghiệp bóng đá tại Việt Nam.

Ông sôi nổi nói về lần gặp cầu thủ bóng đá đội Thể Công - Triệu Quang Hà cách đây 5 năm. Hai người rất tâm đắc với ý tưởng thành lập một câu lạc bộ bóng đá. Ít lâu sau, Câu lạc bộ bóng đá mang tên T&T VN ra đời đi từ hạng 3 rồi dần dần lên hạng nhất rồi lọt vào V-League. Khi ấy, nhiều người hỏi ông sao không mua ngay một câu lạc bộ bóng đá danh tiếng, ông chỉ mỉm cười. Không có cái gì vinh quang hơn bằng chính công sức mà mình bỏ ra.

Sau gần 5 năm nhảy sang lĩnh vực bóng đá, số tiền bầu Hiển đã chi mà chưa thu lại được một đồng nào đã lên tới 70 tỷ đồng. Mỗi lần xuất chi, kế toán sốt ruột lắm. "Và tôi cũng hiểu rằng, nếu không có niềm đam mê thì không làm được bóng đá. Hay nói cách khác là làm bóng đá khó hơn kinh doanh. Bạn biết không, tôi đã được hưởng niềm vui chiến thắng của một nhà vô định. Cảm giác khó tả và không thể mua được bằng tiền và chẳng kém gì khi mình gặt hái được thành công trong kinh doanh", ông nói.

Theo ông, trong kinh doanh cũng như bóng đá nếu muốn thành công, ngoài niềm đam mê còn phải có mục tiêu rõ ràng. Bầu Hiển thừa nhận trong bóng đá, ông mới thành công một nửa. Khi nào bóng đá chưa mang lại nguồn thu tức là chưa thành công. Và giống như bao doanh nhân khác, bầu Hiển cũng có một khát vọng là ước mơ trở thành người Việt Nam đầu tiên lọt vào danh sách tỷ phú của thế giới. "Đây là khát vọng và niềm tự hào dân tộc mà tôi tin bất cứ doanh nhân nào cũng mong muốn đạt được và đang phấn đấu để thành công", bầu Hiển nói.

Tập đoàn T&T được thành lập năm 1993, hoạt động đa lĩnh vực, đa ngành nghề: Với hơn 10 công ty thành viên, 3 công ty liên doanh với nước ngoài, 3 nhà máy sản xuất với qui mô lớn và hiện đại, với hơn 20 dự án đầu tư tài chính tại các ngân hàng, công ty chứng khoán và bảo hiểm. Ngành nghề kinh doanh chính: Sản xuất phụ tùng, lắp ráp, sửa chữa xe hai bánh và ba bánh gắn máy; Kinh doanh, môi giới, đầu tư các dự án về Bất động sản; Thăm dò, khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản; Xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, công cộng, giao thông thủy lợi; Đầu tư tài chính; Kinh doanh, môi giới, đầu tư Bất động sản. Sản xuất các loại ống nhựa công nghiệp cao cấp...

Từ một doanh nghiệp kinh doanh thương mại, sản xuất, lắp ráp xe máy, T&T đã trở thành một tập đoàn kinh tế hoạt động trên nhiều lĩnh vực như công nghiệp, tài chính, bất động sản, thể thao với nguồn vốn trên 5.000 tỷ đồng và hàng nghìn lao động. Đánh giá của Công ty Vietnam Report thì tập đoàn T&T hiện xếp thứ 32 trong Top 500 DN lớn nhất VN.


Gợi ý tìm kiếm: , , ,,, , ,  
Đọc thêm »

Trương Gia Bình: Doanh Nhân Xuất sắc

Trương Gia Bình sinh năm 1956, học sinh chuyên toán Chu Văn An Hà Nội. Tốt nghiệp khoa Toán cơ, Đại học Tổng hợp Moscow năm 1979. Bảo vệ thành công luận án PTS tại Đại học Tổng hợp Moscow năm 1983. Được nhà nước phong tặng danh hiệu Phó giáo sư năm 1990. Hiện là Chủ tịch HĐQT, TGĐ FPT.


Là người sáng lập FPT, là thủ lĩnh, là linh hồn của FPT, là nhà kiến trúc sư tài ba, tác giả của mô hình tập đoàn FPT, là trung tâm tập hợp lực lượng. Tất cả những danh hiệu đó chưa nói hết được vai trò to lớn của anh Bình đối với FPT.

Hầu hết những người quen biết FPT đều có chung nhận định: "Yếu tố quan trọng nhất quyết định thành công của FPT là nhờ FPT tập trung được một lũ quái nhân có sừng có mỏ, tâm huyết một lòng đi theo FPT từ lúc hai bàn tay trắng đến tận bây giờ". Anh Bình chính là người quan trọng nhất, có công lao lớn nhất trong việc tập hợp lực lượng, tập hợp nhiều hiền tài, đoàn kết, đồng sức đồng lòng vì sự phát triển và trường tồn của FPT.

Nếu như hầu hết các tài liệu về "thành công học" đều thống nhất nhận định: yếu tố đầu tiên quyết định sự thành công là "phải có hoài bão và ước mơ lớn", thì điểm nổi bật nhất của anh Bình chính là người có hoài bão và ước mơ lớn. Hoài bão và ước mơ của anh lớn đến mức mà mỗi khi anh đưa ra một hoài bão ước mơ mới thì hầu hết người thân và cộng sự của anh đều cho là viển vông và hầu như không ai tin là nó sẽ trở thành sự thật, chỉ riêng anh thì tin, tin một cách ngây thơ và trong sáng. Nếu chỉ có như vậy thôi thì chắc anh Bình không thể thành công. Điểm quan trọng nữa là anh Bình không chỉ tin mà anh còn có biệt tài thuyết phục mọi người tin theo mình, không chỉ thuyết phục mà anh còn đốt cháy cả người khác vì niềm tin cháy bỏng đó. Không chỉ tin, thuyết phục mà anh Bình còn quyết tâm cao độ, quyết tâm đến mức lì lợm, đi đến tận cùng để thực hiện ước mơ đó. Rất may mắn cho FPT là đến tận bây giờ phần lớn các ước mơ lớn của anh Bình đều đã và đang trở thành sự thật hay ít ra là chưa có ước mơ nào thất bại.

Năm 1988, khi mà chỉ có hai bàn tay trắng, anh Bình đã tập hợp được 13 cán bộ khoa học thành lập ra FPT và ước mơ "trở thành một tổ chức hùng mạnh". Năm 1990, khi mà lương của nhân viên FPT chỉ có 15 USD, với khoảng 30 nhân viên, anh Bình đã mơ ước xây dựng FPT trở thành tập đoàn hùng mạnh và anh bắt người FPT phải học theo mô hình tập đoàn của Daewoo và Misubisshi... Năm 1994 khi mà doanh số Tin học của FPT chỉ khoảng 4-5 triệu USD anh Bình đã mơ ước đưa FPT trở thành công ty số 1 Việt Nam. Năm 1996, khi FPT đã trở thành công ty Tin học số 1 Việt Nam thì anh Bình mơ ước FPT trở thành con chim đầu đàn của ngành Tin học Việt Nam. Năm 1998 khi FPT tròn 10 tuổi, trong khi mọi người FPT đang trong men say chiến thắng thì anh ước mơ xuất khẩu phần mềm với mục tiêu 5000 lập trình viên, 200 triệu USD xuất khẩu phần mềm và 8 tỷ USD trên thị trường chứng khoán. Vào năm 2003 này, khi mà doanh số FPT vào khoảng 200 triệu USD, anh Bình mơ ước đến năm 2008 FPT sẽ có doanh số trên 1 tỷ USD.

Anh Bình vừa là nhà lãnh đạo tài ba, vừa là nhà giáo tâm huyết vừa là triết học gia uyên thâm. Anh là tác giải của học thuyết về GEN công ty, học thuyết Fractal, về chiến tranh nhân dân trong quản trị kinh doanh, học thuyết về thác số-cầu vượt, học thuyết về Leadership Building... Anh có thể diễn thuyết say sưa về các lĩnh vực trên ở bất cứ đâu, cho bất cứ ai (từ Tổng bí thư, Thủ tướng đến các em sinh viên tài năng trẻ), miễn là người đó chịu ngồi nghe anh nói.

Vào cuối năm 1998, khi FPT tròn 10 tuổi thì Trương Gia Bình đã là một người nổi tiếng không chỉ ở Ấn Độ mà cả ở Mỹ. Còn ở Việt Nam quê hương ông, nơi mà một viên tướng nhỏ của FPT cũng dám mơ làm thủ tướng thì sự nổi tiếng của ông quả là không có giới hạn. Là một người thông minh, ông biết cơ hội của mình đã đến và là một người giàu tham vọng, ông không có ý định để cơ hội cứ thế trôi qua. Vào thời điểm năm 1998, ông và các cộng sự của mình đã dựng nên một công ty tin học có tiếng tăm lẫy lừng, bề thế hơn cả công ty Microsoft lúc mới ra đời. Lễ kỷ niệm 10 năm và lễ đón nhận Huân chương lao động hạng hai của công ty FPT là một sự kiện gây nhiều dư luận đến mức hàng tháng sau dân Hà Nội vẫn còn bàn tán.

Thông thường sau những thành công như thế thì người ta bắt đầu hưởng thụ. Nhưng Trương Gia Bình không phải là người thường. Ông chưa có ý định hưởng thụ và ông đã thuyết phục được hầu hết các cộng sự của mình có chung ý chí đó.

Trị Quốc

Trong những ngày này, câu hỏi duy nhất trăn trở trong đầu ông Bình là: làm thế nào để chuyển hướng FPT đang rất thành công ở các lĩnh vực khác sang xuất khẩu phần mềm?

Là con rể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng lỗi lạc nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20, ông Bình chịu ảnh hưởng nhiều phong cách lãnh đạo "lấy dân làm gốc" của vị tướng này. Ông không muốn quyết định một cách độc đoán, quân chủ. Ông thực tâm muốn thi hành dân chủ. Sẽ có những người vô trách nhiệm, phát biểu lung tung. Nhưng ông không sợ. Ông tin vào đa số sẽ ủng hộ ông. Nhân viên nào chống quá, cùng lắm ông cho nghỉ không ăn lương.

Một chiến dịch học tập và quán triệt tinh thần xuất khẩu phần mềm đã diễn ra, kết thúc bằng hội nghị tổng kết rầm rộ tại Đồ Sơn có tên là "Hội nghị Diên hồng" - trùng tên với một hội nghị nổi tiếng trong lịch sử của các vua Trần lấy ý kiến toàn dân nên hòa hay nên đánh giặc Thát vào thế kỷ 13.

Nhưng diễn biến của Hội nghị Diên hồng tại Đồ Sơn lại không hoàn toàn như dự kiến của ông. Tham luận đầu tiên gây sự hưng phấn rất cao là của Đỗ Cao Bảo với tiêu đề "Xây dựng một hình ảnh FPT mới". Là một tướng lắm tài, nhiều chiến công nên ông Bảo nói gì người ta cũng nghe. Ông Bảo cho rằng, FPT hôm nay không còn là công ty số một quốc gia mà là con chim đầu đàn, nên mỗi hành động của FPT sẽ được các công ty khác bắt chước, sao chép lại. Điều này vô cùng nguy hiểm vì khả năng sáng tạo của FPT không phải là vô hạn. Để khắc phục nhược điểm này, ông Bảo đề nghị là phải có một số hư chiêu. Xuất khẩu phần mềm nếu thành công thì tốt, ngược lại nếu thấy khó khăn quá thì ta vẫn thổi lên biến thành hư chiêu, dụ CMC lao vào cho bõ ghét.

Một công thần bảo thủ khác là ông Bùi Quang Ngọc cho rằng tin học trong nước vẫn là quả đấm thép. Phụ trách FPT phía Nam, ông Hoàng Minh Châu thì cho rằng phương hướng sắp tới của chi nhánh là xây trụ sở mới cho tương xứng với hình ảnh của một công ty đầu đàn.

Báo cáo của ông Phan Ngô Tống Hưng về vai trò của Phi tin trong hệ thống FPT "FPT phải đi bằng hai chân" lại càng làm cho "tiêu điểm xuất khẩu phần mềm" bị mờ hơn. Ông Lê Quang Tiến cũng ủng hộ ông Hưng, cho rằng, bây giờ khó khăn thì Phi tin mới là cứu cánh vì không phải bỏ vốn, không phải đầu tư...

Cho đến khi báo cáo đinh của Hội nghị "Chết hay là Xuất" do ông Nguyễn Thành Nam trình bày thì hầu hết mọi người đã bội thực về các định hướng chiến lược khác nhau. Mặc dù có tài biến báo, ông Nam cũng không thuyết phục được ai nhổ lúa để trồng cà phê xuất khẩu, kể cả việc ông đã hù dọa mọi người năm tới mất mùa lúa, c... cũng không có mà ăn.

Ông Bình rất buồn vì một ngày trôi qua mà chẳng thêm được tướng lĩnh nào chia sẻ quyết tâm "xuất khẩu phần mềm" của ông. Trong bữa nhậu tối, như thường lệ, ông Tiến lại cống hiến cho cử tọa các chuyện cổ kim đông tây, chuyện nào cũng buồn cười.

Khi ông Tiến kể đến đoạn "Lưu Bị than thở gần năm mươi tuổi đầu mà vẫn phải đi ở nhờ đất của Lưu Chương" thì ông Bình bỗng ôm mặt khóc hu hu, ai can cũng không được. Ông vừa khóc vừa nghẹn ngào nghe thật thương tâm: "Ta nay ngoài bốn chục tuổi đầu cũng chỉ biết mua rẻ bán đắt, một phần mềm cỏn con như Microsoft Office cũng không tự làm ra được, phải cúi mặt sài chùa. Nghĩ lại xấu hổ quá, thật không bằng cả cái tên Lưu Bị, Lưu Bịch ngày xưa, các ngươi bảo ta không đau lòng sao được!".

Chính cảm xúc chân thật trong lúc có hơi men của ông đã thuyết phục được mọi người và ngày hôm sau cả hội nghị đã nhất trí chào nhau bằng câu "xuất hay là chết". Hội nghị Diên Hồng tại Đồ Sơn có thể coi là hòn đá đầu tiên của công cuộc kiến tạo ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam mà ông Bình là người chủ xướng quan trọng nhất.

Những người không có cơ hội gần gũi ông Bình sẽ không bao giờ hiểu được ông là người có nghị lực và quyết tâm lớn lao nhường nào. Ông hiểu thành công của Hội nghị Diên Hồng tại Đồ Sơn chỉ là khởi đầu. Sự ủng hộ của các tướng lĩnh mới chỉ ở lời nói chứ chưa phải bằng việc làm. Mà ai cũng đang bận làm một việc gì đó, nên ông sẽ là người duy nhất trong lúc này phải lo giải quyết từng việc một. Ông Bình thuộc típ người, càng khó khăn, tiềm năng trong ông càng trỗi dậy.

Việc đầu tiên là ông nói chuyện với Lê Quang Tiến, Phó Tổng giám đốc Tài chính, một nhân vật đang giữ toàn bộ tiền của FPT. Vốn thông minh, nên ông Tiến nhanh chóng đồng ý xuất khẩu phần mềm là một định hướng đúng.

Nhưng là con người tài chính - rất thực tế, ông nghi ngờ khả năng cụ thể của đội ngũ phần mềm FPT nói riêng và Việt Nam nói chung. Sau nhiều ngày thảo luận ông Tiến đã đồng ý chi khoản ngân sách một triệu đô la Mỹ cho dự án đầu tư phát triển phần mềm xuất khẩu. Không biết một triệu là nhiều hay ít, ông Bình hoàn toàn thỏa mãn về nguồn lực tài chính đã được đảm bảo này.

Một vấn đề quan trọng khác đối với xuất khẩu phần mềm là quy trình sản xuất. Vào thời điểm đó FPT còn chưa có chính sách chất lượng. Các quy trình sản xuất kinh doanh hoặc chưa có, hoặc có thì cũng chẳng ra gì. Ông Bình nói chuyện với Lê thế Hùng, một bộ óc điện tử của FPT, phó tiến sĩ toán lý.

Rất yêu mến Trương Gia Bình, ông Hùng nhận ngay trách nhiệm xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng ISO 9001 cho toàn bộ các quá trình của FPT, trong đó đặc biệt chú trọng đến quá trình sản xuất phần mềm. Đối với ông Bình, FPT đã là công ty ISO 9001 ngay sau khi ông Hùng nhận lời, mặc dù tổ chức chứng nhận chất lượng quốc tế BVQI đến cuối năm 1999 mới công nhận điều đó.

Để triển khai kinh nghiệm 10 năm "con người là cốt lõi của thành công", ông Bình đã phát động một chiến dịch cầu hiền tài. "Chiếu cầu hiền tài" của ông đăng trên báo Chúng ta và được nhiều báo khác đăng tải lại đã gây xúc động mạnh mẽ trong giới trẻ. Hai câu lạc bộ tài năng trẻ FYT ra đời, quy tụ hầu hết những học sinh sinh viên giỏi nhất nước, trong đó có nhiều em vừa đoạt các giải cao trong các kỳ thi toán học, tin học quốc tế.

Một trong các nỗ lực cầu hiền tài đã đưa về FPT một ngôi sao sáng trong làng phần mềm Việt Nam lúc đó là Henry Hùng. Ông Henry là bạn học thời sinh viên với Phan Ngô Tống Hưng. Là người có hoài bão lớn lao và biết truyền cảm xúc sang người đối thoại, ông Bình không khó khăn gì trong việc thuyết phục ông Henry đang lạc lối giữa trời Tây về với FPT chính nghĩa. Chính ông Henry là người đưa khách hàng phần mềm quốc tế đầu tiên cho FPT: công ty Winsoft-Canada.

Một vấn đề làm đau đầu ông Bình là khả năng giao tiếp với thế giới. Do người Mỹ không nói được tiếng Việt nên chúng ta buộc phải nói tiếng Mỹ. Đây là bất lợi lớn nhất của Việt Nam so với Ấn Độ khi làm việc với thị trường Mỹ. Hệ thống giáo dục của Việt Nam trong nhiều năm qua không thực sự coi trọng dạy ngoại ngữ. Hầu hết các cử nhân tin học, ngoài tiếng Việt ra, chẳng nói được bất cứ một thứ tiếng nào khác.

Theo kinh nghiệm của bản thân, ông Bình hiểu rằng, quan trọng nhất đối với việc học ngoại ngữ là tạo ra được môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên. Vì vậy, ngoài các lớp học ngoại ngữ nâng cao, các kỳ thi toefl... ông yêu cầu mọi nhân viên phần mềm phải giao dịch và báo cáo bằng tiếng Anh. Lúc đầu các báo cáo đều rất ngắn, thường chỉ vài dòng. Nhưng sau hai tháng duy trì, có lúc ông đã rất ngạc nhiên khi nhận được báo cáo bằng tiếng Anh dài tới mấy chục trang.

Bình Thiên hạ

Ngày 13 tháng 6 năm 1999, một bộ phận tinh nhuệ từ Xí nghiệp Giải pháp Phần mềm FSS được tách ra thành một FSU (FPT Strategic Unit), lãnh ấn tiên phong thực hiện gia công phần mềm đầu tiên có tên là Life-Serve, một phần mềm bảo hiểm nhân thọ của công ty Winsoft.

Để động viên cán bộ của mình, ông Bình đã gọi họ là những chiến sĩ trên tiền tuyến và cam kết là những người còn lại - hậu phương lớn sẽ làm tất cả những gì cần làm để tạo điều kiện cho tiền tuyến chiến thắng.

Ông cũng phong cho hai đồng Giám đốc của FSU những chức vụ còn to hơn cả chính ông: Henry Hùng làm Chinh Tây Đại nguyên soái, Nguyễn Thành Nam làm Bình Tây Đại nguyên soái. Nhưng ông không phải là người dễ dãi. Ông nói với các nguyên soái của mình: các ngươi chỉ có một quyền duy nhất là chiến thắng.

Cuối tháng 06/1999, Trương Gia Bình cùng với Henry Hùng làm chuyến khảo sát thị trường Mỹ. Các ông đã đến thung lũng Silicon và gặp gỡ rất nhiều công ty tin học ở đây. Sau đó tại Seatle, hai ông đã có buổi tiếp xúc với phó chủ tịch Microsoft cùng đại diện của nhiều công ty khác.

Sau Seatle, hai ông đến Dallas và gặp gỡ 15 công ty phần mềm lớn nhỏ. Chuyến đi cho ông Bình thấy tiềm năng vô hạn của thị trường Mỹ và trong đầu ông ý tưởng mở văn phòng đại diện tại Mỹ đã chín muồi. Nói về chuyến đi, ông Bình kết luận: vấn đề quan trọng bây giờ là phải nhanh chóng tổ chức lực lượng.

Lúc này lực lượng làm phần mềm của FPT chỉ khoảng 70 người, trong đó số đang làm các hợp đồng nội địa khoảng 40 người. Cần phải tuyển thêm rất nhiều. Nhìn số lượng sinh viên các khoa CNTT tốt nghiệp hàng năm, ông Bình thấy yên tâm. Nhưng thực tế không phải vậy. Theo tiêu chuẩn tối thiểu mà Nguyễn Thành Nam đề ra cho lập trình viên như toefl 500, biết C++, Java, VB, DBMS..., hầu hết các ứng viên không đáp ứng được. Mặc dù họ rất thông minh, biết nhiều, nhưng tình trạng chung là "cái cần thì không biết".

Ông Bình suy nghĩ nhiều ngày về vấn đề này và đi đến kết luận, Việt Nam cần thiết phải có các tổ chức đào tạo chuyên nghiệp quốc tế mới có thể đào tạo các lập trình viên đáp ứng các tiêu chuẩn của ngành công nghiệp phần mềm.

Theo gương Đường Tam Tạng, ông cùng Nguyễn Thành Nam làm một chuyến du hành sang Ấn Độ với mục tiêu tìm lời giải cho bài toán nhân lực. Tại đây ông đã tiếp xúc với các công ty Tata, Aptech, NIIT, Inforsys... Thành công của những công ty này đã khiến ông sửng sốt. Chính những người Ấn tiên phong này đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách và tâm hồn ông, họ đã thổi bùng ước mơ lay lắt của ông thành một đám cháy khổng lồ.

Giữa tháng 9 năm 1999, FPT khai trương hai trung tâm đào tạo lập trình viên quốc tế FPT-Aptech. Aptech là công ty đào tạo hàng đầu của Ấn Độ, có hơn một ngàn trung tâm đào tạo trong nước và hơn hai trăm trung tâm đào tạo ở 30 nước khác trên thế giới. Ông Bình đã có thể tạm yên tâm về bài toán nhân lực để tập trung thời gian giải quyết những vấn đề khác.

Cuối năm 1999, ông Bình quyết định mở chi nhánh tại Bangalore. Khúc Trung Kiên được ông Bình phong làm Đại tướng và chiến trường Ấn Độ được gọi là chiến trường B, bí danh của chiến trường ác liệt nhất trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

Trong chiếu chỉ có đoạn: "Nay quyết định mở mặt trận phía Tây trên đất Ấn, lập đàn phong tướng, phong thiếu tá Khúc Trung Kiên lên chức Đại tướng FPT, tổng chỉ huyphương diện quân Ấn Độ, lập tức lên đường viễn chinh, giành thắng lợi về cho công ty".

Vì mục tiêu của FPT-India đặt ra quá chung chung nên tính thuyết phục không cao. Quyết định thành lập chi nhánh FPT tại Ấn Độ đã gây tranh cãi nhiều ngày trong hàng ngũ cán bộ tham mưu, nhưng ông Bình thấy không cần phải giải thích hay đính chính. Một số người có tính hài hước cho rằng, không có chi nhánh nước ngoài làm sao FPT có thể trở thành công ty quốc tế được!

Sự việc này chứng tỏ tầm nhìn của ông Bình cao hơn hẳn mọi người và đã vượt qua giới hạn thông thường của một giám đốc công ty.

Trên thực tế chi nhánh Ấn Độ không mang lại một lợi nhuận hay triển vọng lợi nhuận nào cả. Nhưng nó có một sứ mạng chính trị to lớn mà chỉ những người có tầm nhìn bao quát mới thấy hết được.

Ông Bình nhận thấy một FPT đơn độc sẽ có rất ít cơ hội thành công. Ông cần sự ủng hộ của chính phủ Việt Nam. Ông mơ ước viễn cảnh "nhà nhà làm phần mềm" sẽ trở thành hiện thực. Bản thân ông cũng bị bất ngờ khi thăm quan thung lũng phần mềm Bangalore - Ấn Độ. Ông muốn các nhà lãnh đạo Việt Nam được tận mắt chứng kiến những gì đã làm ông sửng sốt ở đây. Việc một công ty Việt Nam có chi nhánh ở thung lũng phần mềm nổi tiếng nhất châu Á là sự kiện có sức thu hút đặc biệt và trên thực tế nó đã lôi kéo được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Sau chuyến công tác của Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, các đoàn công tác của Chủ tịch Nước Trần Đức Lương, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã lần lượt đến thung lũng phần mềm Bangalore. "Trăm nghe không bằng mắt thấy", những chuyến đi này đã ảnh hưởng rất nhiều đến chính sách của Nhà nước đối với định hướng chiến lược xuất khẩu phần mềm một năm sau đó.

Vào những ngày đầu tiên của thiên niên kỷ mới, ông Bình đã quyết định cử Henry Hùng và Hồng Sơn sang mở văn phòng tại thung lũng Silicon. Hai ông này có nhiệm vụ đem cờ Việt Nam và cờ FPT cắm trên đất Mỹ.

Sự kiện này đã làm chấn động dư luận trong cộng đồng người Việt Nam trên toàn thế giới. Việt Kiều ở Mỹ tức tối, "chúng nó không cần vượt biên mà cũng sang được đây". Việt Kiều Anh-Pháp thì tò mò, "không hiểu chúng nó sang Mỹ làm gì"? Người Việt trong nước thì khâm phục. Dân FPT đi đâu cũng bị hỏi "chúng mày sang Mỹ làm gì đấy?" và câu trả lời bao giờ cũng là "đầu tư chứ còn làm gì nữa", "tại sao lại phải đầu tư bên đó?", "à, môi trường đầu tư ở đó an toàn hơn ở châu Âu".

Ông Bình đặt rất nhiều kỳ vọng vào Henry Hùng. Theo kế hoạch, trong ba tháng đầu ông Hùng phải đưa văn phòng Silicon vào hoạt động ổn định, sau đó sẽ bàn giao cho ông Sơn và đi mở văn phòng mới. Trong 2 năm, FPT sẽ mở thêm khoảng 15 văn phòng ở Bắc Mỹ. Mỗi văn phòng có trách nhiệm quí các hợp đồng trị giá ít nhất là 400K. Như vậy 15 văn phòng sẽ cung cấp các hợp đồng cho Việt Nam với tổng trị giá khoảng 6 triệu đô la Mỹ vào năm 2001.

Bị thôi miên bởi ý chí của ông Bình, Henry Hùng và Hồng Sơn lên đường sang Mỹ với một nỗi lo canh cánh, không biết mình kiếm được nhiều hợp đồng quá thì ở nhà có chuẩn bị đủ người thực hiện hay không?

Lúc này FPT đã cơ bản triển khai xong về mặt tổ chức cho hướng xuất khẩu phần mềm. Tổng hành dinh của FPT Software (viết tắt là FSOFT) nằm ở Hà Nội. Tại đây có FSU1 do Nguyễn Thành Nam trực tiếp phụ trách, FSU3 do Bùi Quang Ngọc chỉ huy. Trung tâm đào tạo Aptech được giao cho Nguyễn Khắc Thành, thường gọi là nghệ sĩ nhân dân, mặc dù chuyên môn của ông là phó tiến sĩ toán lý. Tại Thành phố HCM, trung tâm phần mềm được đổi tên thành FSOFT HCM, do Lê Trường Tùng và Nguyễn Quốc Hùng phụ trách. Trung tâm đào tạo Aptech do ông Tùng kiêm nhiệm. Công ty có chi nhánh quốc tế tại Bangalore và văn phòng đại diện tại Silicon Valey.

Kết thúc năm 2000, ông Bình nhìn lại những việc đã làm tuy khá nhiều nhưng vẫn còn quá chậm. Ông tâm sự với các cộng sự rằng quỹ thời gian của ông không còn nhiều, nếu không hết sức khẩn trương thì sợ già mất. Hơn nữa cơ hội cũng không đứng yên chờ ai.

Sau một năm quyết tâm làm xuất khẩu phần mềm, chiến công mà FPT thu được mới chỉ là Nà Ngần, Phay Khắt. Không có cứ điểm Điện Biên Phủ, cũng không có Tổng tiến công vào Sài Gòn...

Tại Hội nghị tổng kết năm 2000 Đại Lải, ông Bình quyết định phát động chiến tranh trong toàn công ty. Ông nói, người Việt Nam là thái âm, trong thời bình những biểu hiện của thái âm là sự trì trệ, là bệnh hoạn. Chỉ khi đặt trong hoàn cảnh chiến tranh, nước sôi lửa bỏng, sự trì trệ đó mới mất đi và những ưu điểm của người thái âm mới có cơ hội thể hiện rõ.

Ông Bình cũng trình bày rõ ràng nội dung của cuộc chiến tranh để toàn dân thảo luận. Mục tiêu của cuộc chiến là 528; thời hạn của cuộc chiến là từ 5-7 năm; phạm vi của cuộc chiến là toàn cầu; bản chất của cuộc chiến là chiến tranh nhân dân; tổ chức của quân đội là fractal; hậu phương là các bộ phận đang kiếm ra tiền; tiền tuyến là nơi tiêu tiền; trinh sát là văn phòng đại diện tại Silicon Valey...

Hùng Henry phải cung phụng bọn Mỹ để lấy hợp đồng. Khúc Trung Kiên phải tập ăn cà ri để hòa mình với dân Ấn. Trong nước mỗi người phải làm việc bằng hai. Các tướng lĩnh phải thắt lưng buộc bụng. Gian khổ không chỉ ngày một ngày hai. Nhưng khi thành công thì tất cả đều thành tỉ phú, bét nhất thì cũng triệu phú...

Tinh thần chiến tranh được phát triển sâu rộng đến từng bộ phận, từng chi đoàn. Các kỹ sư phần mềm được phong quân hàm cấp úy. Binh pháp Tôn Tử được mang ra thảo luận. Ông Bình mời cả vị tướng có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh nhân dân như tướng Hoàng Đan đến nói chuyện.

Nhân viên FPT gặp nhau toàn nói chuyện kỳ chính, chính kỳ, fractal, 528... Để cho dễ nhớ, ông Bình đã gói gọn mục tiêu của công ty vào 3 chữ số 528. Số 5 chỉ 5000 lập trình viên chuyên nghiệp của FPT vào năm 2005. Số 2 chỉ 200 triệu doanh số phần mềm xuất khẩu cũng vào năm đó. Số 8 chỉ giá trị của công ty tại thị trường chứng khoán Nasdaq là 8 tỷ đô la Mỹ.

Toàn thể nhân viên FPT hừng hực khí thế chiến tranh. Trở thành công ty bạc tỷ trong vòng mấy năm là một chuyện phi thường và người FPT đang quyết tâm làm chuyện phi thường.

Những vị lãnh đạo Nhà nước Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến công nghiệp phần mềm, nhưng sự quan tâm đó vào đầu năm 2000 vẫn chưa được thể hiện bằng hành động cụ thể. Chưa có nghị quyết của chính phủ về ngành công nghiệp này. Chưa có chính sách ưu đãi của nhà nước cho các công ty phần mềm. Nhà nước cũng chưa quyết tâm đầu tư. Ông Bình hiểu rằng, cần phải tiếp tục tác động.

Cuối tháng 3 năm 2000 một phái đoàn do công ty FPT phối hợp với Ban tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa và VTV đã tiến hành khảo sát ngành công nghiệp phần mềm Ấn Độ. Mục tiêu của chuyến đi này là học hỏi kinh nghiệm Ấn Độ trong lĩnh vực xuất khẩu phần mềm, để tiến hành tuyên truyền sâu rộng cho việc xây dựng và phát triển phần mềm xuất khẩu Việt Nam.

Ông Bình đã lên đài truyền hình Việt Nam và trước 80 triệu đồng bào cả nước kêu gọi "dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn" cũng phải xây dựng bằng được ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam hướng tới xuất khẩu. Không chỉ tuyên truyền trên truyền hình, ông còn đi đến Đà Nẵng, Cần Thơ giải thích và vận động những nhà lãnh đạo tại các tỉnh này ủng hộ xây dựng các công viên phần mềm địa phương.

Chiến dịch tuyên truyền sâu rộng với sự tham gia của tất cả các phương tiện thông tin đại chúng đã mang lại kết quả. Ai cũng nói về phần mềm. Chính phủ bàn về phần mềm. Tỉnh, thành phố, quận huyện cũng bàn về phần mềm. Hội thảo về "xuất khẩu phần mềm như một cơ hội thiên niên kỷ" đã diễn ra khắp nơi.

Quả thật là Việt Nam đang nằm trong tốp nghèo nhất thế giới và cơ hội bứt ra khỏi tốp này không phải là nhiều. Khẩu hiệu "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" vẫn tiếp tục chỉ là khẩu hiệu trong nhiều năm qua. Không có nhiều lựa chọn cho Việt Nam. Vì thế, dù cách thức đặt vấn đề có khác nhau, nhưng hầu như các hội thảo trong thời gian này đều đi đến một kết luận giống nhau: công nghiệp phần mềm là lối thoát duy nhất của Việt Nam. Từ vấn đề kinh tế, xuất khẩu phần mềm đã trở thành vấn đề chính trị, vì nó không chỉ mang về cho đất nước một ít ngoại tệ mà là mở ra cho đất nước một cơ hội phát triển.

Ngày 05/06/2000, Chính phủ đã ban hành nghị quyết về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000-2005 với mục tiêu: 50 ngàn lập trình viên, 500 triệu đô la Mỹ phần mềm xuất khẩu vào năm 2005. Ngày 17-10-2000, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa 8 đã ra Chỉ thị 58-CT/TW, trong đó nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin đối với sự phát triển đất nước.

Tiếp theo hai văn kiện quan trọng này là việc triển khai hàng loạt các chính sách ưu đãi dành cho các công ty phần mềm như: miễn thuế 4 năm cho các công ty phần mềm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, không áp dụng VAT với các sản phẩm phần mềm, thuế xuất nhập khẩu bằng không...

Đặc biệt các lập trình viên Việt Nam được tôn vinh, khi mức lương bắt đầu phải nộp thuế thu nhập nâng từ hai triệu lên tám triệu đồng. Các công ty phần mềm được sử dụng internet với tất cả các cổng dịch vụ không bị kiểm soát qua firewall... Nhà nước đầu tư vào các khu công viên phần mềm như Quang Trung, Hòa Lạc...

Những người làm phần mềm hân hoan thụ hưởng các chính sách mới này, nhưng không phải tất cả trong số họ đều biết đến công lao của ông Bình trong nỗ lực tác động hình thành chính sách.

Những người gần gũi ông nói rằng, trong hoàn cảnh thuận lợi, vai trò của ông rất mờ nhạt, nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, ông luôn tỏa sáng. Tư tưởng Thác nước và Cầu vượt của ông chưa được mọi người chia sẻ, nhưng ông sẽ thuyết phục được họ không sớm thì muộn. Dòng thác ông nói tới là dòng thác công nghệ và đội quân làm phần mềm chính là những cái cầu vượt mà Việt Nam phải cần tới, để không bị mặc kẹt trong tốp các dân tộc đau khổ nhất thế giới.

Gợi ý tìm kiếm: , , , , , 
Đọc thêm »

Nguyễn Ngọc Điệp: Người từ bỏ mức lương 10.000 USD

Thiếu kinh nghiệm, vốn đầu tư tiêu hết vèo chỉ sau 12 tháng, phải cầm cố cả nhà cửa, Nguyễn Ngọc Điệp vẫn không từ bỏ ý xây dựng web mua sắm có cái tên rất Việt - Vatgia.com.

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống kinh doanh lâu đời (Nhà may Phú Hưng với hơn mười cửa hàng tại Hà Nội), dường như chẳng bao giờ Điệp phải lo toan đến những chuyện cơm - áo - gạo - tiền.

Năm 22 tuổi sau khi tốt nghiệp trường Đại học Ngoại Thương, Điệp nhanh chóng đầu quân cho một doanh nghiệp ở Nhật Bản rồi trở thành một trong những người làm thuê với mức lương tháng lên tới hơn 10.000 USD. Anh nhanh chóng tậu nhà, xe và nhiều phương tiện khác có giá trị mà chẳng cần bất cứ sự trợ giúp nào từ cha mẹ.

Tưởng chừng với bệ phóng vững chắc và khởi đầu suôn sẻ ấy, Điệp sẽ chọn lựa cho mình lối an toàn: Nối nghiệp gia đình phát triển nghề may lâu đời hoặc trở thành người làm thuê có mức thu nhập cao ngất ngưởng. Thế nhưng, khi đã có trong tay gần như mọi thứ - nhà cửa khang trang ở Hà Nội, xe hơi, khoản thu nhập mơ ước, Điệp vẫn đau đáu phải làm cái gì đó để bằng hiểu biết của mình đem lại nhiều giá trị cho xã hội hơn.



Ông chủ web Vatgia.com - Nguyễn Ngọc Điệp.
“Cuộc đời là chuỗi những nhân duyên, chẳng ai sinh ra đã nghĩ mình sẽ trở thành ông chủ doanh nghiệp, tôi cũng vậy. Đôi khi cơ hội đến bất ngờ như thể số phận đã định sẵn vậy và nó buộc phải xảy ra”, Giám đốc Vatgia.com lý giải rất đơn giản về con đường khởi nghiệp của mình.

Điệp bén duyên với vatgia.com tại thời điểm kiến thức của anh về công nghệ thông tin lẫn thương mại điện tử vẫn ở giai đoạn chưa có gì. Năm thứ 4 - khoa tiếng Nhật, trường Đại học Ngoại thương, anh đầu quân cho một công ty chuyên về xuất khẩu lao động, đầu tư, xuất nhập khẩu, tư vấn du học, du lịch, tổ chức event… Sau đó, anh nhận được suất học bổng tại Nhật và vừa học vừa làm việc tại đây. Những ngày trên đất Nhật Bản, được tiếp xúc nhiều với cộng đồng mạng với phương thức giao dịch trực tuyến, Điệp bắt đầu tập làm quen với thương mại điện tử.

Hồi đó, bạn bè, người quen thường nhờ Điệp đặt mua máy tính, máy ảnh, camera, mỹ phẩm,… của Nhật để gửi về Việt Nam. Công việc bận rộn, không có điều kiện đi lại nhiều, Điệp mày mò đặt mua hàng qua các trang mạng của Nhật. Thực hiện càng nhiều giao dịch online, Điệp càng thấy ham mê. Anh bắt đầu để tâm nghiên cứu các website thương mại điện tử tại đây.

Rồi thông qua các cuốn sách viết về hiện tượng kinh tế của Nhật Bản cũng như thế giới, anh ngẫm ra một điều: Hầu hết tỷ phú thế giới đều tập trung vào 4 lĩnh vực chủ chốt: công nghệ, bất động sản, dầu lửa và phân phối. Trong lĩnh vực công nghệ các công ty hàng đầu như Yahoo, Google hay Facebook,… đều được thành lập từ hai bàn tay trắng bởi những người rất trẻ. Từ đây, Điệp nhen nhúm ý tưởng thành lập công ty riêng kinh doanh lĩnh vực khá mới tại Việt Nam - bán hàng qua mạng.

Ban đầu, Điệp có ý tưởng xây dựng một website hoàn toàn bằng tiếng Nhật để cung cấp thông tin về Việt Nam cho khách hàng Nhật Bản. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc với họ, anh hiểu rằng người Nhật yêu cầu tiêu chuẩn rất cao. Ngoài thông tin đồng bộ, họ còn yêu cầu hệ thống thanh toán, thẻ tín dụng… kèm theo, nên anh làm thử bằng tiếng Việt trước.

“Bạn bè là người Nhật khi biết ý tưởng này cũng khuyên tôi nên tập trung làm thị trường Việt Nam bởi với gần 90 triệu dân, đây là một thị trường vô cùng tiềm năng cho thương mại điện tử, lại đang bị bỏ ngỏ hoàn toàn, chưa có một công ty nào chiếm lĩnh”, Điệp kể.

Anh mang ý tưởng này đến làm việc với gần 20 công ty có tiếng về công nghệ tại Việt Nam để đặt hàng họ phát triển. Tất cả đều lắc đầu từ chối vì yêu cầu của Điệp đưa ra về dữ liệu và tính năng quá khó và phức tạp. Chán nản nhưng Điệp không chịu bỏ cuộc, anh tiếp tục tìm người nghiên cứu độc lập. Sau 6 tháng làm ngày làm đêm, website vatgia.com bắt đầu thành hình vào đầu năm 2007.

Những ngày đầu hào hứng, Điệp nhẩm tính với số vốn tích lũy vài trăm nghìn đôla, cộng thêm tiền cho thuê căn nhà anh sở hữu và tiền lương làm thêm cho công ty cũ, anh có thể duy trì được công ty mới hoạt động. Ai ngờ, đúng một năm sau, khi vatgia.com vẫn còn trong giai đoạn khởi động, chưa mang lại doanh thu thì nguồn vốn mà anh có - 300.000 đôla bắt đầu cạn kiệt. Trong khi, mỗi tháng anh vẫn phải ứng tới 200 triệu đồng để trả lương nhân viên, Vatgia.com đứng chênh vênh bên bờ phá sản. Đã có lúc anh tính đến việc bán nhà, bán xe, cầm cố đồ đạc có giá trị để duy trì công ty hoạt động.

Thế nhưng, trong lúc khó khăn nhất, vận may vẫn mỉm cười với Điệp. Bạn bè bên Nhật biết anh khó khăn đã tự nguyện giúp đỡ người 5.000, người 10.000 đôla và động viên anh vượt khó. Được bạn bè giúp sức, vatgia.com tiếp tục duy trì hoạt động cho đến tháng 3/2008 thì Quỹ đầu tư mạo hiểm của Mỹ - IDG đã quyết định rót vốn vào đây. “Trước khi IDG vào một tháng, chúng tôi đang ở giai đoạn cầm cự, anh em 'ăn cơm nắm nằm vùng' để duy trì hoạt động của công ty”, Điệp kể.

Thế nhưng, có tiền, Điệp lại vấp phải khó khăn mới - đó là nghĩ cách tiêu tiền. “Có tiền, chúng tôi bắt đầu mở rộng quy mô, lập cơ sở mới, thuê văn phòng to đẹp hơn, thu nhập anh em cũng tăng đáng kể. Thế nhưng, cái khó lại nảy sinh”, Điệp kể.

Vatgia.com khởi đầu với 5 thành viên bỗng chốc tăng tới 70 người, rồi 120 nhân viên… Điệp đối mặt với thách thức trong quá trình hoạt động, nhân viên đi về không ai quản lý, phòng nhân sự chưa có, mỗi thành viên quản lý một nhóm nhỏ độc lập như một vương quốc riêng.... Mọi thứ trở nên hỗn loạn. Lúc bấy giờ, Điệp cầu cứu các công ty lớn cùng ngành tại Nhật.

“Sau khi nghe, họ không đưa ra lời khuyên mà tặng cho cuốn sách và nói về nhà đọc, mọi bí quyết nằm cả trong đó”, anh kể. Đọc xong cuốn sách “Xây dựng để trường tồn” mà bạn bè tặng, Điệp thở phào. Anh hiểu rằng muốn công ty lớn mạnh phải cần xây dựng một văn hóa riêng, có giá trị cốt lõi, mục tiêu dài hạn... mới có thể thống nhất phát huy được sức mạnh tinh thần và mọi nguồn lực của nhân viên.

Điệp tâm niệm trong công ty, ông chủ duy nhất là khách hàng. "Tôi nhớ mãi câu nói của Sam-Walton người sáng lập Tập đoàn bán lẻ số 1 thế giới Wal-Mart: Trong công ty, chỉ có một ông chủ duy nhất đó là khách hàng. Khách hàng có thể đuổi việc từ giám đốc cho đến nhân viên chỉ với một hành động duy nhất đó là mua hàng của công ty khác. Chính câu nói này đã định hướng toàn bộ công ty tôi”, Điệp nói.

Xác định được hướng đi, mục tiêu và giá trị cốt lõi, vatgia.com nhanh chóng ổn định hệ thống và tạo nên những bước nhảy vọt. Đến đầu năm 2010, vatgia.com bắt đầu tạo ra dòng tiền dương.

Nhiều năm nay, Điệp vẫn trung thành với chiếc xe mà anh mua khi còn làm tại công ty cũ và giữ mức lương 1.000 đôla một tháng. Trong khi đó, nhiều cán bộ dưới quyền nhận khoản thu nhập gấp đôi thậm chí gấp 3 so với giám đốc. Sở dĩ anh sống sung túc với mức lương "khiêm tốn" này vì cho rằng mình may mắn khi vẫn giữ được 2 căn nhà cho thuê. Đây là 2 trong số 3 căn nhà mà Điệp mua được tại thời điểm chưa thành lập công ty riêng.

Năm học lớp 9, bố mẹ ly hôn, anh phải ở nhờ họ hàng và di chuyển hết nơi này đến nơi khác. Tại thời điểm đó, Điệp hiểu được giá trị của ngôi nhà nên khi kiếm được tiền là anh quy đổi hết ra nhà đất. Thế nhưng kể từ khi mở công ty, tất cả nhà đều phải cho thuê để có tiền duy trì Vatgia hoạt động.

Năm 2008 (vừa tròn 30 tuổi) anh được về ở tại căn nhà của chính mình bởi đã có dòng tiền đầu tư đến từ IDG. “Phần thưởng lớn nhất đối với tôi trong quá trình khởi nghiệp là đã trở về được chính ngôi nhà của mình chứ không phải tiếp tục sống kiếp ở thuê nữa”, Điệp tâm sự.


Gợi ý tìm kiếm:  , , , , ,  
Đọc thêm »

Nguyễn Hòa Bình: Ông chủ website chodientu.vn

Ngày nay, trong môi trường kinh doanh khắc nghiệt không có chỗ cho những suy nghĩ chủ quan và bồng bột - những yếu tố thường thấy ở những doanh nghiệp mà ông chủ của nó tuổi đời còn rất trẻ.

Cũng nằm trong độ tuổi rất trẻ khi mới thành lập doanh nghiệp, nhưng bằng trí tuệ và những bước đi vững chắc của mình, Nguyễn Hòa Bình - Tổng Giám Đốc Công ty cổ phần giải pháp phần mềm Hòa Bình (PeaceSoft) - đã tạo dựng lên một chân dung có thể nói là hình mẫu của những doanh nhân thế hệ mới, thế hệ 8X.

Năm 1999, Bình tốt nghiệp Trường THPT Nguyễn Huệ, Hà Đông, Hà Tây với giải 3 quốc gia môn Toán. Với thành tích ấy, Bình có thể vào thẳng bất kỳ trường nào mình thích. Do ham mê công nghệ thông tin nên Bình đăng ký nhập học vào hệ chính quy (4 năm), khoa Công Nghệ (nay là Đại học Công Nghệ), Đại học Quốc gia Hà Nội. Ngay từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, với khả năng sáng tạo nổi trội, Bình được chọn như một hạt giống để đào tạo nguồn tài năng trẻ của của Trung tâm bồi dưỡng tài năng công nghệ trẻ thuộc Công ty phát triển đầu tư công nghệ FPT, Bộ Khoa học và Công nghệ.

Những đề tài và hoạt động khoa học không biết mệt mỏi đã đem lại cho chàng trai trẻ những giải thưởng ngay khi học Đại học. Hai năm liên tiếp, Bình đoạt các danh hiệu “Gương mặt trẻ tiêu biểu Đại học Quốc gia Hà Nội”, năm 2001 Sinh viên nghiên cứu khoa học” cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo… và niềm vinh dự lớn là năm 2001 là Thành viên đoàn Việt Nam tham dự cuộc thi “Sinh viên châu Á lập trình Visual Studio.NET” tại thành phố Seoul (Hàn Quốc) được tổ chức bởi Microsoft Châu Á và gặp mặt chủ tịch tập đoàn Microsoft, ngài Bill Gates.

Ngoài ra có thể kể thêm một số những giải thưởng khác mà Bình đã đạt được giải nhì và giải ba “Sáng tạo khoa học kỹ thuật thanh niên” năm 2001 (VIFOTECH sinh viên) do Quỹ VIFOTECH trao tặng. Hiếm có một chàng trai khi còn ngồi trên nghế nhà trường lại đạt được nhiều giải thưởng như vậy, nó cũng chính là tiền đề cho những thành công của Bình sau này.

Bình tiếp cận và ham mê với công nghệ thông tin từ năm lớp 10, hồi đó nhà chỉ có duy nhất một máy tính, bố mẹ mua cho anh trai để làm thiết kế. Tranh thủ những lúc anh không sử dụng, Bình tự mày mọ và học ké, rồi mua sách về đọc, nghiên cứu. Chính từ thời điểm này, công nghệ thông tin đã cuốn hút Bình và đó là lý do mà Bình chọn vào khoa Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Ngay từ khi còn là sinh viên năm thứ hai, Nguyễn Hòa Bình đã ấp ủ ước mơ thành lập công ty cung cấp giải pháp phần mềm. Sau này anh kể lại, lúc đó cũng muốn làm giàu và cũng hơi ngông cuồng một chút, Công ty TNHH cung cấp giải pháp phần mềm Hòa Bình (Peace Soft) chính thức thành lập ngày 16/4/2001, do Nguyễn Hòa Bình - một cậu sinh viên năm thứ hai vừa tròn 20 tuổi - làm Giám đốc.

Lúc đó công ty chỉ là trên giấy tờ, không vốn, không nhân lực, không trụ sở, cái gì cũng tự làm, tự nghiên cứu, ngay chính kế hoạch định hướng phát triển công ty Bình cũng chưa biết, rồi nhận được sự ủng hộ của một số người bạn cùng chí hướng, Bình và mọi người đã viết một số phầm mềm để chào hàng đến một số đơn vị là các công ty tư nhân và một số cơ quan nhà nước.

“Vạn sự khởi đầu nan” rồi cũng qua, Hội đồng tư vấn chuyên môn về y học thảm họa - Bộ Y tế, do GS. TSKH. Lê Thế Trung, làm chủ hội đồng - nhận thấy phần mềm của Bình và những người bạn viết có ứng dụng khoa học cao nên đã ký hợp đồng. Đó là giải pháp về xây dựng hệ thống thông tin phòng chống thảm họa y tế qua Internet, cho phép cảnh báo và đưa ra phương án ứng cứu các trường hợp khẩn cấp: lũ lụt, phân lũ… triển khai tại nghành y tế 5 tỉnh, thành: Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình...

Con đường lập nghiệp đã tạo được một cột mốc quan trọng để Bình vững tin đưa công ty đến một tầm cao mới, tầm cao của trí thức và lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ ham sáng tạo và cống hiến trí tuệ cho đất nước.

Không bằng lòng với những gì đạt được, Bình tự hiểu rằng phải nỗ lực hơn nữa, phấn đấu hơn nữa mới mong đưa được công ty phát triển, vì những người trẻ như Bình khi mới lập nghiệp thì cái gì cũng khó. Chỉ có lòng nhiệt huyết và sự năng nổ của tuổi trẻ thì không thay thế được kiến thức thương trường, kinh nghiệm quản lý…

Một doanh nghiệp cũng giống như con người, cũng phải trải qua quá trình phát triển nhất định, đầu tiên là giai đoạn khởi nghiệp, giai đoạn phát triển và sau đó là tạo dựng được chỗ đứng trên thương trường. Mà khởi nghiệp thì bao giờ cũng có rất nhiều chông gai, có đến 80% số doanh nghiệp thất bại ngay từ khi bắt đầu khởi nghiệp.

Nguyễn Hòa Bình - Ổng chủ website Chodientu.vn

Biết vậy, Bình lao vào nghiên cứu các đề tài khoa học và đầu tư có chiều sâu cho các sản phẩm của công ty. Thời điểm này, các báo cáo khoa học của Bình tại một số hội thảo như Hội thảo quốc tế về Công nghệ thông tin Địa lý (GIS-IDEAS) tổ chức tại Hà Nội. “Hội nghị thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số tiểu vùng sông Mê Kông” tại Học viện công nghệ châu Á (AIT), Thái Lan… đã thu hút được sự chú ý của những người làm khoa học và những nhà hoạt động trong giới công nghệ thông tin.

Bình nhận được nhiều lợi động viên khích lệ và chính nó đã giúp cho Bình thêm tự tin và củng cố quyết tâm trong sự nghiệp. Năm 2003, Bình lại nhận tiếp được một niềm vinh dự nữa khi đạt giải ba giải thưởng “Trí tuệ Việt Nam” do Đài Truyền hình Việt Nam, công ty FPT và báo Lao Động đồng tổ chức; Giải thưởng “Quả Cầu vàng” do Thủ tướng chính phủ Phan Văn Khải, Bí thư TW Đoàn, Bộ trưởng Bộ KHCN và Bộ trưởng bộ BCVT trao tặng; Giải thưởng “Phần mềm ưu việt nhất Việt Nam” (được gắn biểu tượng 5 sao đẳng cấp quốc tế) do Hiệp hội phần mềm Việt Nam (VINASA) đánh giá, dành cho Giải pháp Cổng thông tin tích hợp E4Portal... Với Bình mỗi một giải thưởng, mỗi một chuyến đi đều có thể đem lại lợi ích cho mình nếu như mình nắm bắt được cơ hội.

Và cơ hội của Bình đã đến. Đó là Hội thảo Net Booking lớn nhất của giới kinh doanh Châu Á năm 2003. Bình đã đăng ký phát biểu trước hội đồng và các nhà đầu tư, lúc đó mỗi một công ty chỉ có 5 phút lên phát biểu để “kêu gào” và mời chào các nhà đầu tư hãy đầu tư cho công ty mình.

Kết thúc chuyến đi, Bình có viết một bài báo đăng trên báo Tuổi trẻ nói về những hoạt động của mình tại chuyến đi và những suy nghĩ về Net Booking toàn cầu. Sau khi bài báo được đăng Bình nhận được sự quan tâm rất có thiện chí của IDG Ventures Việt Nam và trực tiếp là ông Nguyễn Bảo Hoàng, Tổng giám đốc IDG Ventures Việt Nam. Chính ông Hoàng đã khuyến khích Bình nộp hồ sơ lên để xem xét và cấp vốn đầu tư, vì tại thời điểm này theo kinh nghiệm của IDG Ventures Vietnam, việc tìm kiếm những ý tưởng kinh doanh đột phá, các dự án khả thi để đầu tư không khó; cái khó là đa số các đối tác của họ còn hạn chế ở khâu quản lý và tiếp cận thị trường nước ngoài.

Và một trong những khó khăn của họ trong việc tìm kiếm đầu tư là trình độ nguồn nhân lực và khả năng của doanh nghiệp Việt Nam trong việc tiếp cận các hình thức kinh doanh và đầu tư mới, ví dụ như những lĩnh vực kinh doanh trên nền Internet, viễn thông và truyền thông, còn yếu. Vì vậy khi ông nhận thấy ở "PeaceSoft có một cổng thông tin đa dạng với website www.chodientu.com và PeaceSoft sẽ là công ty hàng đầu về phát triển thị trường thương mại điện tử tại Việt Nam”, IDG đã chấp nhận đầu tư ngay đợt đầu cho công ty của Bình, được lựa chọn trong tổng số gần 200 hồ sơ gửi về.

Tháng 3/2005, tại khách sạn Caravelle (TP.HCM), Công ty của Bình là công ty Việt Nam đầu tiên nhận vốn đầu tư mạo hiểm từ Tập đoàn dữ liệu quốc tế IDG (Mỹ) phục vụ đầu tư xây dựng cổng Thương mại điện tử www.chodientu.com với số vốn đầu tư 1 triệu USD trong thời gian 5 năm. Ngoài các vấn đề về vốn, tổng giám đốc IDG Ventures đã gia nhập Ban giám đốc công ty PeaceSoft. Bình hy vọng, với những kinh nghiệm của mình, ông Hoàng sẽ giúp PeaceSoft giải quyết nhiều bài toán khó về nhân sự với phương pháp tiếp cận và phát triển thị trường tiên tiến và chuyên nghiệp.

Có thể nói khi IDG quyết định đầu tư vào Công ty TNHH Cung cấp giải pháp phần mềm Hoà Bình (Peace Soft) do Bình là Tổng Giám đốc cũng chính là khi họ nhìn thấy ở Bình khát vọng và khả năng có thể làm cho IDG sinh lời nhanh ng. Bởi trước khi có số vốn đầu tư của IDG, sàn giao dịch thương mại điện tử chodientu.com của công ty Bình đã có chỗ đứng và phát triển với doanh thu năm sau cao hơn năm trước. Hàng ngày tại chodientu.com có khoảng 70.000 lượt giao dịch 0 một con số không nhỏ ở Việt Nam. Nhưng đối với Bình, cái lợi lớn nhất khi được IDG đầu tư, đó là Bình sẽ mở rộng quy mô của Chợ điện tử lên và phát triển thêm nhiều lĩnh vực hoạt động hơn nữa.

Con đường lập nghiệp của Nguyễn Hòa Bình vẫn đang rộng mở phía trước. Bình tự biết còn rất trẻ nên không thể tự mãn, ngay cả khi một số các cơ quan báo chí trong nước như Đài Truyền hình Việt Nam, Truyền hình kỹ thuật số, Đài Tiếng nói Việt Nam,… các cơ quan báo chí nước ngoài như Microsoft Asia.NET Magazine, Washington Post, Financial Times, BBC Vietnamese, Los Angeles Times, News, AFP, The Independent, TV5, China Post… nhiều lần nhắc đến Bình như một nhà lãnh đạo trẻ thành công, Bình cũng không hề kiêu căng, anh chỉ coi đó là những ưu ái của giới truyền thông dành cho mình.

Hiện nay, điều hành gần 200 nhân viên đầy sức sáng tạo và phần lớn cũng trẻ như ông chủ, Nguyễn Hòa Bình đang miệt mài đóng góp cho lĩnh vực công nghệ thông tin Việt Nam những giải pháp hữu ích. Đó là sản phẩm điện thoại Internet Voice Everywhere network, Giải pháp cổng Chính phủ điện tử eGov.Net - giải pháp thử nghiệm mô hình Cổng Chính phủ điện tử trên nền công nghệ .Net và web service cho phép cung cấp các dịch vụ hành chính công phục vụ người dân qua mạng…

Những thành công đó, cùng với sàn giao dịch thương mại điện tử chodientu.com, Bình hoàn toàn có thể tự hào vì đã đóng góp một phần công sức của mình trong sự phát triển của thương mại điện tử Việt Nam.

Nguyễn Hòa Bình: Ông chủ website chodientu.vn - Người viết : Diễn giả Dương Hồng Lễ

Gợi ý tìm kiếm: , , , , , ,  
Đọc thêm »